Trang

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

THO GIA ĐÌNH HỒ DUY DIẾN - DÒNG ĐỜI



                          Tác giả: Hồ Duy Diến

                          Biên soạn: Trịnh Trân

                          Kỹ thuật vi tính: Trịnh Trân

                          Thiết kế bìa và ảnh: Trịnh Trân

                         In tại nhà in: Hà Trân – Tây Đô – Thanh Hoá

 

             LỜI NÓI ĐẦU

 

(Trò chuyện cùng các cháu)

Các cháu yêu quý!Ông biết làm thơ từ hồi học lớp 4 (cuối cấp 1 thời ông). Ông tập hợp lại thành tập “Dòng đời” thời gian cuối cấp II (lớp 7 hồi đó), suốt thời gian 3 năm học cấp III đều đều có thơ. Đó là thời chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ leo thang bắn phá ra miền Bắc. Đến khi vào đại học, được học lý luận văn học, thấy thơ của mình không ra gì, bỏ không làm nữa. Nhưng khi cảm xúc đến khôngkiềm chế đước cũng có được đôi bài. Đến khi đi dạy học thì bẵng đi. Tập thơ góp được khảng bốn, năm chục bài bị mất khoảng năm 1987 khi chuyển từ trường cấp 3 lên nhà mới. Bắt đầu nghỉ hưu mới lại làm nhiều và tham gia CLB, có thơ in ở nhiều tuyển tập, tham gia các cuộc thi từ địa phương đến trung ương và có giải, có kỷ niệm chương. Ông tập hợp lại giữ nguyên tên “Dòng đời”.

Phần I: Những đoạn, bài chép lại theo trí nhớ

Phần II: Thơ xướng hoạ

Phần III: Thơ dự thi

phần IV: Thơ tặng

Phần V: Thơ làm theo cảm hứng thông thường

Phần VI: Thơ chữ Hán và chữ Nôm

Tập thơ phản ánh được phần nào cuộc đời ông, với tư tưởng, tình cảm, vui, buồn, sướng, khổ một cách chân thực. Ông không mong các cháu noi gương ông, mà chỉ mong các cháu hiểu ông để sống, phấn đấu theo phương châm của vế câu đối ông treo ở nhà thờ chi họ ta: Tử tôn bách thế tạo vinh xương (con cháu ngàn đời tạo lập cuộc sống an lành và vinh hiển./.                        

 

       PHẦN I: CHÉP LẠI THEO TRÍ NHỚ VÀ NHẬT KÝ

 

                             TRƯỜNG EM

 

                Trường em tên gọi Vân Hồ

      Dựng xây bên cạnh phố Tô Hiến Thành

               Sân trường rợp bóng cây xanh

     Ngày ngày bè bạn học hành vui chơi.

 

      (1) Báo tường năm 1961, học lớp 3 trường Vân Hồ 1

  ĐI BỐC HÀNG THUÊ

 

Ì ạch ì ạch, bốc bì lên xe

Kỳ cạch kỳ cạch, đẩy xuống thuyền ghe

Bì ngô, bì gạo mỗi bì hai hào

Mồ hôi ướt áo, bụng đói cồn cào

Mắt hoa đom đóm chân bước trộn rau

Mần răng vẫn muốn sống lâu?

Mà xem thế sự, dãi dầu tấm thân!

                                             1964

     ĐƯỜNG VỀ VĨNH LỘC

 

Đường về Vĩnh Lộc đỏ nắng trưa

Rộn ràng nhịp bước, nhịp ước mơ

Nhưng em Vĩnh Lộc này là huyện

Vĩnh Lộc không là thôn nữ xưa.

                                           1970

 

                       TẾT GIÁP THÌN

 

Tết nhất năm nay có gì đâu

 Cây hương, cốc nước với cơi trầu

 Gắng kiếm bông hoa theo tục lệ

 Quả bòng, nãi chuối đoạn mía...sâu.

 

              Buồn 1

 

Tạo hoá sinh chi cái sự buồn

Như dòng nước lũ mãi mãi tuôn

Quanh năm nước cứ ào ra biển

Chỉ thoáng lòng ta mãi cứ buồn.

 

            Buồn 2

 

Buồn tình ta hỏi bóng trăng lu

Mây bỗng bay qua chấn mịt mù

Thất vọng hỏi sao, sao hờ hững

quay sang hỏi gió, gió vi vu.

                                          1964

 

                    NHỮNG ĐÊM

 

Ta từng thức suốt những đêm thâu

Ta đào thêm nữa tuyến chiến hào

Ta từng thức suốt bao đêm trắng

Nhiệt tình đắp công sự thêm cao.

 

Sướng vui ta thức nữa đêm nay

Trong nỗi mừng chuyển xác máy bay

Ta còn thức nữa đêm như thế

Chuyển xác quân thù tận sáng mai.

                                                                         1966

* Đã đăng trên báo “Chiến thắng” – Nghệ An,

tiền thân của tạp chí “Sông Lam”.

 

 

                           GẶP

 

Tôi đã gặp em trên công trường An Ngãi

Từ buổi sơ khai dựng lán làm nhà

Tôi lại gặp em trên công trường Đảng(1)

Dẻo vai gánh đất rộn lời ca

Ta còn gặp nhau ở nơi nào nữa

Nơi đất nước cần gọi chúng ta.

                                                       1968

 

(1) Công trường An Ngãi – Đập Ba Tuỳ, đập Quỳnh Thắng

gọi là công trường Đảng 3/2

 

 

TIẾNG HÁT MỞ ĐƯỜNG

 

Em hát nữa đi – Cô gái mở đường

Giữa bom thù: Căm giận với yêu thương

Tiếng hát đưa xe vào mặt trận

Gửi niềm tin chiến thắng tới tiền phương.

                                                         1967

 

CÂU ĐỐI XUÂN 1972

 

- Hợi qua, lợn éc, trả khô

                         kêu bằng Tết

- Tý đến, chuột mò sương rỗng

                         gọi là xuân

 

 

                     NGHỀ HOM NỨA

                              

Thuở trời đất nổi cơn gió bão

Trai anh hùng thiếu gạo mới gay

Rủ nhau lên rú chặt cây

Chặt dang, chặt nứa ban rầy sơn lâm

Khi nắng đốt cháy lưng sém mặt

Khi chiều buông lật đật ly sơn

Khi về trợt bổ đường trơn

Khi trèo lên dốc trong cơn đói lòng

Khi vất vả trong vòng bắt bớ

Chốn rừng hoang bỡ ngỡ lối đi

Khi nghe tiếng gáy “cu kỳ”

Rừng khuya vắng lặng rậm rì buồn tênh

Trải lên thác xuống ghềnh ngao ngán

Rồi nắng thiêu trên quãng đường dài,

Cỏ khô vơ bó làm hài

Chân đỡ bỏng rát một hai cung đường

Phải chịu cảnh ăn sương, nằm đất

Cắn răng chờ mở mặt ngày mai

Dẫu trăm năm hay một ngày

Thì nghề hom nứa cũng tray nhất đời.

                                                    1968

(Chuẩn bị cho đi đại học)

 

 

                  VÔ ĐỀ

               Âm Hán Việt

 

Hồng hoa khai nhất đoá

Dục thái hán hứa đa

Hồng hoa niêm bí nhị

Dục thái vấn viên gia.

 

Dịch thơ

 Hoa hồng nở một bông

Người muốn hái thì đông

Hoa hồng khép kín nhị

Muốn hái hỏi người trồng,

                                      1964

 

NHẬT KÝ 02-3-1968

                              

Đường xa lận đận bước đi thi

Đề ra sao mà khó ra ri

Nhức óc bừng tai mù tịt tịt

Đau đầu đỏ mặt bối rì rì

Viết nhắng, viết nhăng cho hết giấy

Nghĩ thầm nghĩ dại để giờ đi

Phen này chỉ có là ê mặt

Ba ngày ăn hại chẳng nên chi.

 

Kết quả: Vào đội tuyển của tỉnh đi thi

văn miền Bắc.

 

NHẬT KÝ THỨ 7 NGÀY 9-3-1968

            (Tức 11 – 2 Mậu thân)

 

Ngẫm câu “khổ tận cam lai”

Mà lòng không biết đúng sai thế nào

           Có người suốt kiếp khổ đau

“ Hữu sinh hữu khổ” biết nào sướng vui

            Có người chỉ biết ngọt bùi

Không hề cay đắng , ngậm ngùi, vướng thân

            Ngẫm ta trong lúc gian truân

“ Cam lai” ngày ấy còn gần hay xa

              Mà lòng đau đớn xót xa

Từ trong chua xót thế mà vẫn tươi

              Hỡi lòng quằn quại ta ơi

Ngẫng lên bước tới cõi đời ngay mai

              Nếu không hy vọng tương lai

Thì trong hiện tại không ai sá gì

              vui cười dấn bước lên đi!

 

19-8-1968

      ĐƯỜNG ĐI NHẬP HỌC

 

Sáng nay xe đã lên đường

Xa nha làng xóm quê hương nặng tình

Đây đồng lúa mượt mà xanh

Qua đây xóm nhỏ tươi lành yên vui.

 

Lắng sâu trong dạ bùi ngùi

Cây đa giếng nước xa rồi Cầu Khanh

 Nơi đây dưới bóng trăng thanh

Ta vui bè bạn trong lành tuổi thơ.

 

Trời màu xám rả rích mưa

Qua đây cầu Zát lòng ngơ ngẫn lòng

Vừa xốn xang giữa màu hồng

Vừa như ước hẹn xanh trông một màu.

 

Đường dài xa tắp phi lao

Xe đi vun vút ta chào quê hương

Mưa rơi mờ đục màu gương

Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu gió vờn mắt trông.

                          

          Quỳnh Hoa, Quỳnh Thạch rừng thông

Qua Quỳnh Văn vẫn mưa giông đầy trời

          Quỳnh Vinh yêu dấu ta ơi

Bao nhiêu “quạ Mỹ” xác rơi đất này.

 

Nắng hừng Quỳnh Lập qua đây

          Thù  ba năm trước dạ đầy hờn căm

Những ngày xuân của sáu lăm (1965)

          Trại phong giặc Mỹ cắn càn bệnh nhân.

 

          Tưởng như xe chậm chậm dần

Biển đề “Thanh Hoá” xe gầm vút nhanh.

 

                              *    *

                                 *

          Tỉnh Thanh ơi! Tỉnh Thanh ơi!

Đi qua đất ấy lòng tôi nghẹn ngào

          Tĩnh Gia cây cối đổ nhào

Cây to trốc rễ, cây cao lộn đầu

          Ngẫm xem phong cảnh mà rầu

Tình yêu bật rễ giá nào gây ra.

 

          Trời thị xã vẫn mưa sa

Rừng thông rẽ lối chân ta bước dồn

          Cầu Cáo qua đã bóng tròn

Tăng, Truyên, Hồng đó hỏi còn gì hơn.

 

Tìm bến xe Giũn chân bon

Đúng ra bến “Rũn” chân chồn dạ lo

Đến đầu cầu Vạn mưa to

Tưởng phà Thiệu Hoá tha hồ rũn chân.

 

Mưa tầm tả trượt đường trơn

Hỏi phà Thiệu Hoá lần sang kịp thời

Đồng không vắng bóng im hơi

Chiều buông sầm sậm dạ bồi hồi lo.

 

Sự đời không để yên cho

Lại găp thằng Thể tơ vò tâm can

Đành rằng gượng gạo hỏi han

Mà lòng uất hận dậy trần khí căm.

 

Đường đi không hỏi lại lầm

Về Thọ Xuân thật bần thần lắm thôi

Bến đò Thiệu Hoá đây rồi

Mênh mông nước chảy bè trôi cùng thuyền.

 

Thật là như đảo như điên

Xuống đò trượt ngã ướt nhèm còn chi

Ca nô máy nổ rầm rì

Đèn pha bật sáng xe đi qua phà.

 

 

Xuống phà trước ánh đèn pha

Hỏi xin tài xế thiết tha đi cùng

Xin không được lại phát khùng

Năm lần bảy lượt, kế cùng nằm đây.

 

Vô ngôi nhà nát rác đầy

Nặc mùi ô uế. Mặc thây cứ nằm

Áo quần ướt lạnh căm căm

Muỗi như trú quả là nằm không yên.

 

20/8/1968

Sáng ra tỉnh giấc đi liền

Hỏi đường Vĩnh Lộc gió vờn đồng xanh

Định vô Thành Thượng Thiệu Thành

Vu vơ đi quá, không đành, băn khoăn.

 

Quán Lào. Trưa. Tạm nghỉ chân

Tìm vô tổng hợp mua ăn cơm bù (bầu)

Hàng phi lao gió vi vu

Bên đường nằm nghỉ nắng như cháy trời.

 

Chiều buông phà Kiểu đến nơi

Qua phà gió mát thảnh thơi vùng Lèn

Đến Vĩnh Lộc trời nhá nhem

Định nghỉ nhưng lại đi thêm quãng đường

Đem khuya đẫm lạnh hơi sương

Bốn đứa ngủ lại bên đường kề sông (ven).

 

21/8/1968

 

Vươn vai trời đã rạng đông

Lại đi bốn đứa gánh gồng lại đi

Đầu phà Cổ Tế đường đê

Đường đi rộn rịp kẻ về người lên.

 

Cửa nhà san sát hai bên

Đê cao ta chạnh nhớ miền sông Lam

Nông  trường bò sữa nắng tràn

Mồ hôi ướt áo mắt vàng chồn chân.

 

Giàu cái số, khổ cái thân

Thạch Bình nơi ấy đến lầm mới ngơ

Bóng tròn bốn đứa vu vơ

Tìm vào Thạch Định thì vưa tới chiều.

 

          Đường đi lận đận bao nhiêu

Tay đau nhức nhối cũng liều mà đi

          Giấy tờ xong chẳng còn chi

Còn lo chạy thuốc để đi tiếp đường.

 

22-8-1968

 

          Đêm tan còn đọng giọt sương

Lại lo gồng gánh lên đường đến khoa

          Chân chồn không quản đường xa

Qua làng, qua bản, ta qua núi rừng.

 

                       

Cẩm Vân đây! Dạ reo mừng

Hành trình vất vả ta dừng ở đây

          Ta đi không phải bốn ngày

Mà ta đi cả quãng đời mười năm.

 

          Cũng hay khi bổng, khi trầm

Chung quy vẫn cứ gian truân đã từng

          Lòng nay xen lẫn lo mừng

Cuộc đời tất chẳng phải dừng ở đây.

 

          Mười năm mới có một ngày

Ta vào đại học nắng say thâm tình

          Ta đi mở lối quang vinh

Bắt đầu tiếp cuộc hành trình thứ hai.

 

          Đường ta đi cả cuộc đời

Tìm ra lẽ sống rạng ngời là đây

          Núi rừng sông biển trời mây

Đẹp tươi trong ánh nắng mai huy hoàng.

 

          Ta vui tiếp bước lên đường

Lòng ta lộng gió bốn phương đưa về

          Khó khăn gian khổ chẳng nề

Lên đường quyết một lời thề đi lên.

                       Xong ngày 23/11/1968

 

PHẦN II: THƠ XƯỚNG HOẠ

 

Bài xướng:    TIÊU GIAO

 

Tôi vẫn làm thơ những sớm chiều

Thổi hồn những chữ ghét và yêu

Công danh hờ hững đôi bờ trúc

Tiền bạc bâng quơ một cánh diều

Đã chẳng buồn thương thời tóc biếc

Làm gì ngơ ngác lúc răng xiêu

Tiêu dao ngâm vịnh quên rồi nhớ

Chén rượu mơ màng bóng tịch liêu

                                                      Văn Hội Tiên sinh

Hoạ:

          KẾT GIAO

 

Tôi bác gặp nhau tuổi xế chiều

Tình ta muôn thuở ghét và yêu

Yêu nhân, yêu nghĩa – hàng  tùng trúc

Ghét trọc, ghét tham – lũ quạ diều

Tuổi trẻ xông pha từng đứng vững

Về già sóng gió chẳng hề xiêu

Tiêu dao ngâm vịnh thành tri kỷ

  Dang rộng vòng tay chấp tịch liêu

 

Cả 2 bài đều in trong tuyển tập

“ Thơ Đường xứ Thanh”.

 

Bài xướng:

 

       KINH ĐÔ THĂNG LONG

 

Rồng bay Công Uẩn đội ơn trời

Sông Nhị ánh vàng nước nhẹ trôi

Văn hiến ngàn đời lừng sử sách

Anh linh muôn thuở vững lâu dài

Trung quân ý chí luôn ghi nhớ

Ái quốc trong lòng vẫn chẳng vơi

Thắng tích Hồ Gươm chùa Một cột

Thăng long văn hiến mãi muôn đời.

                           Hồ Bá Quỳnh 1939

 

Hoạ:

          VỊNH THÁP BÚT                                    

 

“ Tả thanh thiên” bút hướng nền trời

Thế đại theo dòng năm tháng trôi

Chép cả hùng bi dày sử sách

Chứng bao oanh liệt vững nghiên đài

Ngoại lai gió độc ngăn xâm phạm

Truyền thống tinh hoa chẳng để vơi

Viết tận trời xanh hồn đất nước

Đức – Nhân – Trí -  Dũng sáng muôn đời.

 

Cả 2 bài in trong “ tuyển tập thơ Đường xứ Thanh.

Bài hoạ in trong tiếng vọng mai sau. Có kỷ niệm chương.

 

Bài xướng:

 

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

AN KHANG THỊNH VƯỢNG

           (Khoán thủ)

 

Cung chúc tấu đàn hát khúc ca

Chúc toàn gia tộc thắm tươi hoa

Tân niên xúc động ôn tình mẹ

Xuân mới bồi hồi nhớ nghĩa cha

An lạc cháu con cao mộng trẻ

Khang ninh chồng vợ rộng tình già

Thịnh hưng tài trí nêu tâm đức

Vượng phát công thành buổi chẳng xa.

                                           Nguyễn Văn Hội

Đặc sắc: 8 chữ đầu câu là tên bài.

Hoạ:

 

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

AN KHANG THỊNH VƯỢNG

 

Cung chùm bát thủ khúc thiền ca(1)

Chúc ý lời trong sáng gấm hoa

Tân nhật cầu kinh trên đất mẹ

Xuân tình “vung bút” giữa quê cha

An tâm tin tưởng đàn con trẻ

Khang kiện hoà vui đám bạn già

Thịnh vận lo gì chim mỏi cánh

Vượng thời thơ bác vẫn ngân xa.

(1) Ông Hội gửi 8 bài

Thơ thiền cung chúc là 1 trong 8 bài đó.

 

   Xướng:            

                               QUANG TRUNG THIÊN

 

Nguyễn Huệ hiên ngang đứng giữa trời

Anh hùng dân tộc của muôn đời

Mắt nhìn tựa chớp soi cùng chốn

Miệng nói như chuông vọng khắp nơi

Xoài Mút – Xiêm La hồn tán bạt

Đống Đa giặc Mãn xác tơi gời

Phân tranh Trịnh Nguyễn từ đây dứt

Thống nhất sơn hà dân sướng vui.

                                      Hồ Bá Quỳnh

 

Hoạ:

    HỒ XUÂN HƯƠNG

 

Cổ “nguyệt”(1) Hồ Tây giữa đất trời

Thơ nôm  - Bà chúa của muôn đời

Tình thương thắm đượm sâu trăm chốn

Lòng giận trào dâng ngập khắp nơi

Phụ nữ - Liễu bồ hằng bảo vệ

Thói đời – Ô trọc đánh tơi bời

Khối tình khao khát không hề dứt

Chín suối nay bà hẳn ngậm vui.

 

(1) Xuân Hương dựng “cổ nguyệt đường” ở Hồ Tây

Đã in trên “Tuyển tập họ Hồ Việt Nam.

 

Xướng:

    HÀNH QUÂN THẦN TỐC

 

Quân lính Quang Trung: Lực lượng dân

Cách đi nhanh chóng tựa như thần

Ba người trong tốp thay nhau võng

Hai cáng một nằm vẫn tiến quân

Nghi Đống biết thua đành tự vẫn

Chàng  Tôn tháo chạy bỏ rối quân

Từ nay sạch bóng quân xâm lược

Kỷ Dậu sáng ngời trang sử xuân.

                                                   Hồ Bá Quỳnh

 

Hoạ:

 

            HỒ QUÝ LY

Trần mạt ông vì nước trọng dân

Hàm oan: Mang tiếng kẻ gian thần

Bình Chiêm dẹp loạn(1) yên thời thế

Viết sách(2) canh tân sáng chí nhân

Cải cách chấn hưng cường đất nước

Xây thành thủ hiểm thịnh binh quân

“ Anh hùng di hận”(3) này càng rõ

Lịch sử công minh rạng sắc xuân.

 

(1)  Đánh thắng Chiêm 4 lần, dẹp loạn sư phá giới

Nguyễn Ổn (2) Viết sách “ Minh đao” chống

khuôn phép Tống Nho, kêu gọi canh tân

(3) Thơ Nguyễn Trãi – bài “ Quan hải”.

 

Xướng:

                      NHÂN KIỆT ĐỊA LINH

 

Dũng Quyết đất này đẹp tựa tranh

Là nơi xứng đáng lập đô thành

Mắt thần Hoàng đế Quang Trung chọn

Tài thánh La Sơn Phu Tử hành

Ra Bắc vào Nam đều thuận tiện

Lên rừng xuống biển thật thông hanh

Kinh đô xây dựng trên nền phượng

Nguyễn Huệ anh hùng rạng sử xanh.

                                                            Hồ Bá Quỳnh

 

Hoạ:

THÀNH NHÀ HỒ

 

Vĩnh Lộc đất này đẹp tựa tranh

Núi sông hiểm trở hợp xây thành

Mắt thần Thái Uý Quý Ly chọn

Phép thánh(1) Thượng thư Đỗ Tĩnh hành

Thành đá phải đâu đà vững chắc

Thành tâm mới thực sự thông hanh

Lòng dân chưa thuận âu đành vậy

Bài học muôn đời tác sử xanh.

 

(1)  Sách “ Đại Việt sử ký toàn thư” viết:

Thành xây trong 3 tháng.

In trong “Tuyển tập Thơ Đường xứ Thanh”,

 “Lời ru non sông” và “Thơ Việt đương đại”.

 

Xướng:

      CHIÊU HIỀN ĐÃI SỸ

 

Hoàng đế Quang Trung trọng đức hiền

Hạ minh để có những ông tiên

Ba lần tìm kiếm Ngô Thì Nhậm

Bảy lượt ra mời Nguyễn Khải Xuyên

Phương lược đánh thù gìn giữ nước

Chương Trình hoà hiếu giữ dân yên

Giang sơn cẩm tú phồn vinh đại

Khúc khải hoàn ca khắp mọi miền

                                                   Hồ Bá Quỳnh

 

Hoạ:

 

       SÁCH MINH ĐẠO

 

Khuôn phép Tống Nho đạo thánh hiền

Sách này lên tiếng chống đầu tiên

Tầm chương trích cú không phù hợp

Thực tiễn thi hành phải suốt xuyên

Kinh tế mở mang phù nước thịnh

Ấm no hạnh phúc giữ dân yên(1)

Đặt nền cải cách thiên “Minh đạo”

Đáng tiếc ban chưa khắp mọi miền!

 

(1)  Thể hiện rõ trong nội dung cải cách: Hạn điền, hạn nô, miễn thuế, mở trường, đắp đường, đào sông, mở chợ...

In trong “Tuyển tập Thơ Đường xứ Thanh” tập 1.

        

      Xướng:

SƠN ĐỨC HẢI CÔNG

 

Nguyễn Huệ anh hùng rạng núi sông

Rõ ràng hải đức với sơn công

cầu hiền đức lớn tày non thái

Đuổi giặc công to tựa biển đông

Dẹp Trịnh phò Lê miền Bắc sáng

Xua Xiêm đánh Nguyễn phía Nam hồng

Cờ đào áo vải Quang Trung Đế

Xứng đáng là con lạc cháu hồng.

                                                             Hồ Bá Quỳnh

 

     Hoạ:

 

QUÝ LY ĐÁNH THẮNG CHIÊM THÀNH

 

Thái uý anh hùng rạng núi sông

“ Quân thần đồng đức”(1) xứng sơn công

Thủ phòng chặn hướng từ Thanh Hoá

Ngăn giặc tràn vào mạn biển đông

Đóng cọc Lạch Trường giăng cạm bẫy

Xua voi sông Mã phất cờ hồng

Thắng Chiêm bốn trận liền giòn giã(2)

Xứng đáng là con lạc cháu hồng.

 

(1)  Nghệ Hoàng ban cho Quý Ly lá cờ ghi: “ Văn võ

toàn tài, quần thần đồng đức”

(2) lần 1: 1380, lần 2: 1382, lần 3: 1383, lần 4: 1389

In trong “Tuyển tập Thơ Đường xứ Thanh” tập 1.                                                                                           

 

Xướng:

        ỨC NIÊN TỒN

 

Mãi mãi muôn năm tiếng vẫn còn

Nặng lời thề với nước cùng non

Quang Trung Nguyễn Huệ anh hùng tại

Công chúa Ngọc Hân thục nữ tồn

Thì Nhậm,. La Sơn...lòng thanh bạch

Bùi Xuân, Quang Diệu... dạ vàng son

Cùng nhau góp sức phù dân tộc

Mãi mãi lừng danh với nước non.

                                                   Hồ Bá Quỳnh

 

Hoạ:

CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY

 

Cải cách khách quan lẽ sống còn

Yêu cầu thực tiễn – dậy còn non

Hạn điền, miễn thuế, văn nôm...tại

Mở chợ, đào sông, thi cử... tồn

Kinh tế ngoại giao lời sáng tỏ

Quân binh văn hoá dạ vàng son

Buồn vị trăm họ chưa theo kịp

Nay vẫn hợp thời với nước non.

 

Bac Hồ Bá Quỳnh sinh năm 1938, quê gốc

Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Lưu, Nghệ An, hiện ở 35,

Hồ Hán Thương, TP Vinh, Nghệ An. Tác giả

“ Hưu nông dân” từng kiến nghị 135 vấn đề

dân sinh XH lên Chính phủ được tiếp nhận nhiều

vấn đề.

 

Xướng:

      BƯỚC VÀO XUÂN

 

Nước nhà đang độ bước vào xuân

Thiên tạo loài người đúng hội dần

Nhân kiệt trau dồi Đạo Hiếu Đức

Địa linh hun đúc Trí Tâm Nhân

Vang lừng bốn biển cương trung hiếu

Sáng chói năm châu thiên mỹ chân

Sung sướng nào hơn thời mở cửa

Nước nhà đang độ bước vào xuân.

                                                             Hồ Bá Quỳnh

 

Hoạ:

 

MỪNG THỌ BÁC QUỲNH

 

Em mừng thọ bác bảy hai (72) xuân

Nguyên đán năm nay đón Tết dần

Công tác cả đời ngời chữ Đức

Về hưu chung cục đẹp lòng Nhân

Giao lưu thơ phú khồng chùn gối

Kiến nghị chủ trương chẳng mỏi chân

Con cháu bạn bè đều ngưỡng mộ

Chúc mừng bác thọ bách niên xuân.

                         Xuân Canh Dần 2010

 

 

THƠ THỈNH HOẠ

 

1.000 NĂM THĂNG LONG

 

Canh dần mừng lễ hội rồng bay

Ngàn tuổi Thăng Long sắp tới đây

Nhớ bấy Hoa Lư nền móng cũ

Thương sao Hà Nội phố phường nay

Vung gươm giữ nước Trần, Lê, Nguyễn(1)

Động thổ xây nhà Nam, Bắc, Tây(2)

“ Tấc đất tiền nhân không để mất”(3)

Công, Nông, Doanh, Trí ... thảy vui vầy.

                  Mùa đông Kỷ Sửu – Nguyễn Văn Hàm(4)

 

(1) Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ.

(2) Chỉ còn hướng đông, phải kiên quyết

giữ Hoàng Sa.

(3) Nguyên văn di chúc của Phật Hoàng

Trần Nhân Tông.

(4)Giáo sư Nguyễn Văn Hàm sinh năm 1936.

Hiện ở: 06, Thành Mỹ - phường 8 – quận Tân Bình

TP Hồ Chí Minh.

 

Bài hoạ 1:

                                HÀ NỘI

 

“ Điện Biên” hạ gục pháo đài bay

“ Mặt trận trên cao”(1) “ rồng lửa”(2) đây

Đổ nát tang thương đau lúc trước

“ Đàng hoàng to đẹp”(3) thoả hôm nay

Phòng không binh chủng xua quân Mỹ

Cảm tử trung đoàn đánh giặc Tây

Nhớ Bác Canh Dần hai hội thọ(4)

Thăng Long đại lễ thảy xum vầy.

 

(1) tên cuốn tiểu thuyêt của Nguyễn Đình Thị

(2) Cách gọi ca ngợi tên lửa

(3) Lời Hồ Chủ tịch

(4) Bác thọ 120 tuổi

In trong “Tôi yêu Hà Nội” nhà XB Hội nhà văn

và “Lời ru non sông” nhà XB Lao động

“Đất nước tình yêu” nhà XB Văn hoá

“ Thơ Việt đương đại” nhà XB Văn hoá.

 

Bài hoạ 2:

                               

                 HÀ NỘI – THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

 

Cờ đỏ sao vàng phấp phới bay

Hoà bình – thành phố ấy là đây

Bạch Đằng sóng cuộn vang từ trước

“ Biên Phủ”(1) trời bừng sáng đến nay

Hàn gắn vết thương chung giúp sức

Đơm hoa hạnh phúc chẳng riêng tây

Đi đầu cả nước cùng hoà nhập

Hà Nội thủ đô tươi sáng vầy.

 

(1) Điện Biên Phủ trên không: 12 ngày đêm

Hà Nội đánh trả B52 của giặc Mỹ, thắng lợi dẫn

đến hiệp định Pari.

(2) Cách gọi ca ngợi tên lửa.

In trong tuyển tập thơ “Tôi yêu Hà Nội”

nhà XB Hội nhà văn.

 

Bài hoạ 3:

                                CỘT CỜ HÀ NỘI

 

Trấn giữ Hoàng thành cờ đỏ bay

Cột cờ Hà Nội vút cao đây

Tri Phương, Hoàng Diệu(1) quên mình trước

Quốc Trị, Trần Hanh(2) tiếp bước nay

Đổi mới kế thừa hồn đất nước

Tiếp thu chọn lọc “gió”(3) trời Tây

Ngót hai thế kỷ cùng sông núi(4)

Biểu tượng thủ đô kiên cố thay.

 

(1) Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu

(Hoàng Kim Tích) khi thất thủ Hà Nội đều tuẩn tiết

dưới cột cờ Hà Nội.

 (2) Anh hùng Nguyễn Quốc Trị chỉ huy trung đoàn

tiếp quản thủ đô, cũng là người trực tiếp kéo cờ tổ quốc

lên cột cờ Hà Nội 10/10/1954.

Anh hùng Trần Hanh cùng đồng đội cưỡi MIG 21

 đánh giặc trời Mỹ, lấy cột cờ Hà Nội làm vật chuẩn

(3) Ý của nguyên tổng bí thư Nguyễn Văn Linh:

Mở cửa thì gió vào, gió thì có gió lành và gió độc,

 phải biết chọn lọc.

(4) Gia Long cho xây cột cờ hà Nội năm 1812.

Tính đến 2010 gần 2 thế kỷ.

In trong tuyển tập thơ “Tôi yêu Hà Nội”

nhà XB Hội nhà văn.

 

  THƠ MỜI HOẠ

 

               ĐÓN XUÂN TÂN MÃO 2011

 

Mão sắp đến rồi chuẩn bị đi

Đón chào xuân mới tả tân thi

Trẻ thêm một tuổi thêm khôn lớn

Già cộng một năm công lão nghi

Đại hội đầu xuân toàn quốc Đảng

Đường lên xã hội vững chân đi

Gửi ai thi hữu lời mời hoa

Nâng chén xuân vui cạn bách ly

01/01/2010 (25-9- Canh Dần)

        Tôn Quát Cao Huy Dĩnh 89 tuổi

   Chùa Hang – Đồng Hỷ - Thái Nguyên

 

Bài hoạ 1:

                                ĐÓN XUÂN

 

Xuân đến tưng bừng xuân lại đi

“Khứ - Lai bất tận” trong ca thi

Xuân qua trước mắt sao neo lại?

Già đến trên đầu phải thích nghi(1)

Làng xóm văn minh chung sức góp

Cháu con phương trưởng vững chân đi

Vòng tay giang rộng thêm thi hữu

Trân trọng chân tình kính cụng ly.

 

(1) Ý thơ Mãn Giác Thiền sư trong bài

 “Cáo tật thị chúng”; Sự trục nhãn tiền quá,

lão tòng đầu thượng lai (Việc chạy qua trước mắt,

già theo đến trên đầu).

 

Bài hoạ 2:

                CHÚC THỌ BÁC CAO HUY DĨNH

 

Xuân đến chu hoàn xuân lại đi

Xưa nay vô số khúc ca thi

Xuân qua tám chín (89) mùa tươi thắm

Tết đến mỗi năm cộng lão nghi

Kháng chiến tiên phong chung sức góp

Hoà bình gương mẫu vững chân đi

Người nghe(1) cả nước đều ngưỡng mộ

Như thể thân gần dẫu cách ly

                                                               22-12-2010

(1) Thính giả đài tiếng nói VN nghe bài

 “ Nghe hát thập ân phụ mẫu” và tập Kiều của cụ

Cao Huy Dĩnh.

 

CHÀO XUÂN CANH TÝ 2008

LÀM CÂY THÔNG ĐỨNG

      (Thơ thất ngôn bát cú)

 

Mậu Tý đến nơi chuột nhảy tưng

Những tay tham nhũng bạc tiền rung

Tùng riêng một cõi thờ liêm chính

Linh chiếm tâm hồn yêu núi sông.

              Lão trượng Hồ Cơ – 108 nhà D8

              Thành Công – Q. Ba Đình – HN

                          (tuổi Quý Hợi 1923

 

In trên trang tin họ Hồ Việt Nam. Đặc sắc nói lái hai tiếng cuối câu trên thành hai tiếng đầu câu dưới.

 

Bài phỏng:

TRI TÚC

 

Thả mãi hồn theo tiếng trúc ty(1)

Tri túc – trọn đời chẳng chuyển di

Chỉ duyên hưu trí còn tươi thắm

Thăm tưới vườn xuân đúng nhật kỳ.

                                      24-6-2008

                                                   

(1) Trúc: Sáo, ty:đàn – Văn nghệ, văn chương.

 

 

Bài xướng:

 

          HOÀI CỔ THI

 (Cụ Nguyễn Tuân – Tác giả “Hồn quê”)

 

Chốc đã trải biết mấy thu đông

Chín khúc vò tơ vướng vít lòng

Uống nước nhớ nguồn sông nước biếc

Ăn cơm nhớ gốc ruộng nhà nông

Cảm tình giúp đỡ nơi làng xóm

Nhớ nghĩa sinh thành chốn tổ tông

Ngắm cảnh chiều tà chim mỏi cánh

Nghĩa tình còn nặng với non sông.

                                                      1999

 

Hoạ:

 

KÍNH TẶNG TÁC GIẢ “HỒN QUÊ”

        ( Hoạ bài “ Hoài cổ thi”)

 

Hồn quê ngót bảy chục thu đông(1)

Toả sáng nhân văn một tấm lòng

Từ Bắc vô Nam chiêm cảnh thắng

Lên rừng xuống biển ngẫm sâu nông

Tươi niềm thương nhớ tình bè bạn

Đẹp đạo tôn thờ nghĩa tổ tông

Cho dẫu chiều tà chim mỏi cánh

Khối tình ghi tạc với non sông.

                                      12-11-2011

 

(1) Bài sớm nhất trong “Hồn quê” – 1942.

                                                                                                      

 

VHT Sinh xướng:

            VUI SỐNG

 

Sống trên trần thế nặng hồn quê

Nợ đất ai ai cũng phải “về”

Khôn dại được trùm năm tấc cỏ

Phú vinh khéo chín mấy nồi kê

Chức quền đắc ý thôi vênh váo

Tiền của hư hao hết não nề

Tích thiện chơi thơ vui bạn hữu

Ấy là cầu thọ mặc khen chê.

                                               27/6 Canh Tý

Hoạ:

 

   CÙNG VUI SỐNG

 

Phố phường giao kết với thôn quê

Tôi bác cùng nhau cũng sẽ “về”

Tích thiện đã làm sao xiết kể

Tu nhân từng trải khó mà kê

“ Vô cầu” thanh thản công không quản

“ Trí túc” an nhiên sức chẳng nề

Sống khoẻ yên vui là có ích

Làm sao cho có ít người chê.

                                      28/6 Canh Tý

Mời hoạ:

      MƯA ĐẦU MÙA

                         (VHTiên Sinh)

 

May thay thuỷ giáng mát đêm hè

Mưa gió đùng đùng nước chảy nhoe

Táo tác ngan gà tìm chỗ nấp

Nghêu ngao ếch nhái ngoặc mồm khoe

Lúa xoè dé mỏng vươn mơn mởn

Cá thả vây dài thoả vẩy ve

Các bác nhà nông tìm xẻng cuốc

Ra đồng giữ nước nắng hoe hoe.

                                              

Bài hoạ:

 

        MƯA MÙA HÈ

 

Cũng là nước xuống giữa đêm hè

Lợi hại đôi đường chẳng nói nhoe

Miền Bắc lũ trôi không chỗ trú

Miền Trung lửa tắt được đà khoe

Núi non sụt lở vùi trường học

Cây cối vươn lên rộn tiếng ve

Mới biết dở hay trong một sự

Anh cò chia sẻ với anh hoe.                         

 

Mời hoạ:

 

Tuổi thọ bảy ba (73) đã trải qua

Sống đời phạm hạnh nếp tăng già

Nâu sồng chạy lạc ngài Ca Diếp

Y pháp thanh bần phật Thích Ca

Phụng đạo góp phần xây giáo Hội

Giúp đời kiến tạo dựng sơn hà

Xét mình không thẹn trên trần thế

Nghiệp lực đeo theo cố vượt qua.

                                              

Hoạ:

 

NOI GƯƠNG THẦY

 

Sống vui sống khoẻ tháng ngày qua

Tuổi trẻ liên thông đến tuổi già

Khắc phục khó khăn vui nốt nhạc

Phat huy thuận lợi rộn lời ca

Góp phần sức nhỏ quanh làng xóm

Chẳng có mơ to chốn hải hà

Mong sống bình yên, không hổ thẹn

Tự hào nhìn lại quảng đời qua.

                                25/2/ Tân Sửu 

 

Bài xướng:

             MỪNG NHÀ MỚI

(Nguyễn Văn Hùng – Hà Nội)

 

Nhớ khách văn chương thảo mấy hàng

Cuộc đời vừa chuyển bước sang trang

Năm tầng mái lệch trông bề thế

Ba bức tranh hoa dệt mịn màng

Vẫn thấy hương cau báy phảng phất

Còn nghe khúc nhạc vọng ngân vang

Sớm hôn nối bút trông tin nhạn

Mở cửa tri âm đón bạn vàng.

                                              

Hoạ:

 

               MỪNG NHÀ MỚI

 

Cảm mến tôn huynh gửi mấy hàng

Chúc mừng nhà mới thật khang trang

Hài hoà cây cảnh, không gian mát

Hiển đạt cháu con khúc nhạc vang

Bởi có chắt chiu tròn ước nguyện

Nếu không cần mẫn khó mơ màng

Nhà cao cửa rộng vui khôn xiết

Hội tụ tam đa gấp bội vàng.

                                   15/4 nhuận – Canh Tý

 

Xướng:

             LÒNG VUI

(VHT Sinh mời hoạ)

 

Ăn ngon ngủ kỹ tiểu thần tiên

Sống khoẻ bình yên thoả nỗi niềm

Tích cốc phòng cơ vui kẻ dưới

Dưỡng tâm nuôi trí xứng người trên

Nối dây hoan hỷ xe nhân ái

Cắt sợi sầu bi gỡ não phiền

Hai chữ phong lưu ai cũng mộ

Việc đời chân thiện vọng thanh thiên.

                                              

Hoạ:

 

                      VUI LÒNG

 

Chăm lo sức khoẻ phải ưu tiên

Phong thuỷ, tâm linh... lắm nỗi niềm

Kẻ tạo dinh cơ cho lớp dưới

Người xây phần mộ kính bề trên

Xem duyên chồng vợ cùng hoan hỷ

Chấm số đồng nhi khỏi muộn phiền

Cần mẫn ngày đêm chu đáo cả

Mong nhàn – Song chịu mệnh hoàng thiên.

                                                    8/4/2021

 

VHT Sinh xướng:

 

               CHƠI VÀ HỌC

 

Ngóng đợi chùm thơ của bạn già

Tuổi nhiều trời nóng ngại đi xa

Cụ Du bà Huyện là thầy học

Anh gió chị trăng ấy khách nhà

Bạn cũ nâng niu trang cẩm tú

Thi đàn tưởng thưởng chữ đào hoa

Trường đàm khoát luận thơ đường luật

Tâm đắc cùng vui phụng thái hoà.

                                               

Hoạ:

 

                 HỌC VÀ LÀM

 

Hữu phúc cùng chung hưởng tuổi già

Không gian cách trở đạo không xa

Tử vi, phong thuỷ tầm từng mục

Thầy Tả thầy Ban dõi mỗi nhà

Giúp tạo dinh cơ cho thịnh vượng

Xem nên duyên phận đạt hài hoà

Chỉ mong thiên hạ đừng chê trách

Cuộc sống an bình vui cỏ hoa.

                                Thang 4 – Tân Sửu

 

Bản quốc ngữ trang 125

 

PHẦN III; THƠ DỰ THI

 

NHỮNG NGƯỜI NÓI DỐI TRONG “KIỀU”

 

Hỏi: Trong “Truyện Kiều” có bao nhiêu người nói dối?

“ Trăm năm trăm cõi người ta”

Nói dối tốt – xấu có ba bảy đường

          1. Kim Trọng nói dối dễ thương

“ Mượn điều du học” tìm đường tình duyên

          2. “bán tơ” nói dối vì tiền

Vu oan giá hoạ đảo điên hại người

          3.Hạ Mã dối trá trần đời

Giả danh cưới vợ mua người lầu xanh

          4. Tú bà sau trận tam bành

Mượn lầu Ngưng Bích giữ danh cho Kiều

          5. Sở Khanh nói dối hạng siêu

“Sổ lồng tháo cũi” cứu Kiều như chơi

          6. Thúc Sinh không nói ra lời

Dấu Hoạn Thư lại gặp “bài dấu cho”

          Cũng là gian dối quanh co

Hậu quả cay đắng đòn no để đời

          7. Họ Bạc dạ thú mặt người

Bày trò giả cưới hại đời Kiều nhi

 

Thoắt “ Cưới” về thoắt bán đi

Kiều gặp Từ Hải tưởng bề yên thân

8. Hồ Công lập kế chiêu an

Quả lừa thượng đẳng Kiều tan nát lòng

Đến đây đau khổ tột cùng

Trao thân gửi phận cho dòng Trường Giang

Tám người nói dối rõ ràng.

 

THAM DỰ CUỘC THI “NGƯỜI CAO TUỔI

NGHỊ LỰC VƯỢT KHÓ – BÁO NGƯỜI CAO TUỔI

                          

            GƯƠNG SÁNG

(Tặng thầy giáo Nguyễn Văn Thắng – Nghĩa Đàn)

 

Mười tám tuổi Thắng thành bại liệt

Tưởng vậy là tắt hết ước mơ

Nhưng nhờ nghị lực vô bờ

Cái đầu thông tuệ, học trò yêu thương

Trái tim thắm, phi thường trách nhiệm

Thúc dục anh cống hiến mê say

Trò nghèo đến học ngày ngày

Ba mươi năm lẻ lòng thầy nhả tơ

Người thành đạt: Kỹ sư, bác sỹ

Đi muôn phương yêu quý tri ân

Ngày nhà giáo với ngày xuân

Học trò muôn ngã về thăm ân tình

                                                  

Đã đăng báo  Người cao tuổi số 28(1345

thứ 3 ngày 18/2/2014.

 

THAM DỰ CUỘC THI THƠ CHỦ ĐỀ “TÌNH MẸ”

DO CLB THƠ VIỆT NAM TỔ CHỨC

                          

CÓ MỘT NỖI BUỒN: TÌNH MẸ

 

Cha hy sinh từ thời chống mỹ

Con lên ba lòng mẹ tái tê

Đắng cay cơ cực trăm bề

Mẹ nuôi hy vọng hướng về tương lai

Mẹ chấp nhận sống đời cô quả

Dồn yêu thương tất cả vì con

Trãi bao chân cứng đá mòn

Đến ngày toại nguyện thấy con trưởng thành

Con xây dựng gia đình hạnh phúc

Mẹ theo con tiếp tục chăm nom

Cửa nhà bán hết chẳng còn

Đâu ngờ gặp phải dâu con vô nghì

Có lần chúng cùng đi dự tiệc

Chỉ cho bà vào bếp: Cơm rang

Béc zê tiêu chuẩn cao sang

Dành riêng tô phở đàng hoàng hẳn hoi

Mẹ tủi phận quyết rời thành phố

Tìm về quê đến chỗ bà con

Qua ngày chua xót héo hon

Mẹ về với đất mà con không tường

Cụ bà được dân làng chôn cất

Lo mộ phận chu tất mọi bề

Cỏ xanh con mới tìm về

Bái quỳ trước mộ dầm dề gió mưa.

                                                      17/5/2014

            Theo nội dung báo Tiền Phong

 

THI ĐỐ “KIỀU” (Đài tiếng nói Việt Nam)

 

Câu đố: Thuý Kiều lưu lạc xa gần

Mấy lần kiệu rước mấy lần ngựa xe

 

Bài giải:

          Thuý Kiều lưu lạc phong trần

Năm lần kiệu rước, một lần đi xe

          Hai lần đi ngựa ê chề

Xin kể chi tiết bạn nghe tỏ tường

          Từ nhà Kiều đến trú phường

Họ Mã rước kiệu(1) đoạn đường ngắn thôi

          Lâm tri cách trở xa xôi

“ Như bay” xe(1) chạy “mù khơi hồng trần”

          Sở Khanh lừa kế thoát thân

“ Ngựa(1) sau ngựa trước một đoàn song song

          Thể tình sau kiện Thúc ông

“Kiệu(2) hoa cắt gió đuốc hồng ruổi sao”

          Yên thân chưa được là bao

Hoạn Thư sắp sẵn mưu sâu “lửa nồng”

          Khuyển Ưng bắt cóc bên sông

Vực ngay lên ngựa(2) xuống dong thuyền(1) buồm

          Họ Bác  dở thói con buôn

Bày trò giả cưới rước luôn xuống thuyền(2)

          Châu Thai nhà chứa thẳng miền

Rồi đem kiệu(3) rước khỏi thuyền bán luôn

          Hồ Công chút nhợt cho lươn

Ép Kiều phải lấy thổ quan tục huyền

          “ Kiệu(4 hoa áp thẳng xuống thuyền

 

Trẫm mình Kiều gặp Giác Duyên sẵn chờ

          Đem Kiều về chốn thảo lư

Bằng thuyền(4) của chính ông ngư cứu nàng

          Kiều vừa tỉnh giấc mơ màng

Tái sinh từ chốn phật đàng từ bi

          “ Kiệu”(5) hoa giục giã tức thì

Vương ông dạy rước cùng về một nơi

          Giải câu đố có mấy lời

Kể thêm bốn lượt thuyền bơi sóng trào.

 

Dẫn giải:

Câu 2135 chỉ nói rước không nói rước bằng gì:

“ Thành thân mới rước xuống thuyền”.

Đến Châu Thai mới: “ Mượn người thuê kiệu rước nàng”.

I. Kiệu:

Lần 1: Họ Mã rước về trú phường ( câu 779).

Lần 2: Thúc ông đem kiệu rước về sau  vụ “quan mặt sắt”

xử án (câu 1466).

Lần 3: Họ Bác rước từ thuyền lên nhà chứa ở Châu Thai

(câu 2143).

Lần 4: Thổ quan rước về làm vợ kế (câu 2601).

Lần 5: Vương ông rước về đoàn viên (câu 3033).

II. Xe:

Chỉ một lần đi ba lần tả. Câu 270: Lên xe “Vó câu khấp khểnh

bánh xe gập ghềnh.

Câu 894: “ Mé ngoài nghỉ đã dục liền ruổi xe”.

Câu 908: “ Một xe trong cõi hồng trần như bay”.

III. Ngựa:

- Sở Khanh lừa trốn (câu 1118).

- Khuyển – Ưng đưa xuống thuyền (câu 1647).

                                                                                    

IV. Thuyền: Lâm trí vô tích

Khuyển- Ưng đưa từ L. Tri về V. Tích (câu 1609).

Họ Bạc đưa từ V.Tích  đến Châu Thai (câu 2136).

Thổ quan đón về làm vợ kế (câu 2601).

Giác Duyên đưa dọc sông Tiền Đường về Thảo Lư

 (câu 2732).

 

     TÂM SỰ TUỔI GIÀ

 

Để phút lâm chung “chấm hết tròn”

Phải lo từ những sự con con

Việc làm, ăn uống cho chừng mực

Ứng xử nói năng gắng vẹn toàn

Chấp nhận khó khăn cùng thuận lợi

Thích nghi bùi ngọt, với tân toan

Khơi trong lắng đục tôn “tri túc”

Hy vọng lâm chung chết “chấm tròn”.

Báo người cao tuổi số 189 (2341) 27/11/2018

 

CA NGỢI NHÀ VĂN SƠN TÙNG

 

Bại liệt, vươn lên vượt chính mình

Sơn Tùng “không phế” dẫu thương binh

Đam mê văn nghiệp, dồn tâm huyết

Tôn kính Bác Hồ, dốc nhiệt tình

Bốn biến đón chào Nguyễn Ái Quốc

Năm châu xuất bản “Búp sen xanh”

Anh hùng lao động thời kỳ mới

Sự nghiệp Sơn Tùng mãi sáng danh.

 

Cả 2 bài in trên Báo Người cao tuổi số 189 (234)

ngày 27/11/2018

 

PHẦN IV: THƠ TẶNG

 

MỪNG ĐÁM CƯỚI HAI CHÁU

            MINH - CƯƠNG

 

          Mượt mà cây lá mùa xuân

In nền trời biếc thanh vân sáng ngời

          Núi sông cách trở xa xôi

Hài hoà ý nguyện đẹp lời lương duyên

          Cùng là rể thảo dâu hiền

Ươm vườn hạnh phúc giữ nền gia phong

          Ơn sâu phụ mẫu tạc lòng

Nghĩa ân thân thích vẹn nồng bền lâu

          Giữ tình chung thuỷ bạc đầu.

 

Đặc sắc: lấy con chữ Tên – đặt đầu chữ đầu câu

Viết đọc ứng tác tại hôn lễ 12h- 21/giêng Kỷ Sửu – 2009.

 

TẶNG HAI CHÁU THẮNG – NGỌC

 

          Thắm hoa tươi lá mùa xuân

Hài hoà ý nguyện vẹn phần thương yêu

          Ăn ở hiếu thảo đủ điều

Ngoài êm, trong ấm, dưới chiều, trên tôn

          Gần xa trong họ ngoài thôn

Nội thân, ngoại thích cho tròn chữ tâm

          Gia phong gìn giữ chuyên cần

O, gì, chú, bác góp phần tu thân

          Chữ rằng” tương kinh như tân”

 

Làm  đọc tại đám cưới 4/3/kỷ Sửu.

Ghép phụ âm đầu, từ đầu câu .

 

     THƠ TẶNG ÔNG CHƠN

(Nhân đọc tập thơ “về quê” của ông)

 

Thơ ông gắn bó với đời thường

Thấu hiểu tình người rõ sắc hương

Phong phú đề tài, nhiều ý tứ

Sâu xa tình nghĩa, một niềm thương.

                                          8/6/2010

 

TẶNG NHÀ VĂN XUÂN CHUẨN

Nhân đọc tập truyện ngắn “ Dòng sông chảy xiết”

của anh (Em nhà thơ Xuân Sách – chồng cô

Quỳnh - cầu Zát)

 

“ Dòng sông chảy xiết” nỗi niềm anh

Sống động làng quê những bức tranh

Bệnh tật đói nghèo và “nổi loạn”

“ Hận thù”, “lầm lẫn” thảy tâm thành

Sáng bừng tình nghĩa mà tươi mới

Thấm đẫm nhân văn mãi mát lành

Để lại cho đời bầu nhiệt huyết

Cháu con vinh hạnh nói về anh.

26/5/2009

 

      TẶNG ANH VŨ HUY THÔNG

(Nhân đọc tập thơ “Gặp phía hư không” anh tặng)

 

1. Đường luật:

“Gặp phía hư không” – một tấc thành

Sự đời trải nghiệm thấu nhân tình

Thanh tâm sao xuyến niền yêu mến

Minh trí xét soi sự tốt lành

Hình ảnh chắt chiu thành chọn lọc

Câu từ sống động dệt nên tranh

Nhân văn toả sáng qua hình thượng

Con cháu tự hào thơ của anh.

                                                 01/6/2010

 

2. Lục bát:

          Đọc thơ anh Vũ Huy Thông

Gặp hay không “gặp phía hư không” giữa đời

          Thanh tâm thấm đẫm từng lời

Toả bừng minh trí sáng ngời nhân văn.

                                 *  *

                                   *

“ Đã yêu” “ bên mộ thi nhân”

“ Đêm đền Cát” “rượu hoàn lương” “hồn làng”

“Ngày xưa kín hở kỳ cùng”

“ Chỉ mong” “về với bến sông” “ tình đầu”

“ Về quê” “biển hát” “mới hay”

“Thơ nơi ấy” “về làng Tây” “chợ Dần”

“ Nơi không ngủ” “thơ vui xuân”

“ Lạ chưa” “ về với Hoàng Long” “ muộn mằn”

“ Chòm Pít” “chỉ một” “ tình em”

“ Chợ Sy” “ông xẩm” “ chợ Viềng tìm tôi”

Sau xa sống động đầy vơi

Chân tình đánh giá, không lời đề cao.

                                                              27-5-2010

Đặc sắc: Ghép tên các bài thơ trong tập thơ.

 

 

VŨ HUY THÔNG HOẠ BÀI

Đường luật

ĐỌC “CẢM TÁC” GIỮA TÂY ĐÔ

 

Đối diện trời xanh giữa cổ thành

Đọc lời “cảm tác” thật chân tình

Gặp anh thấp thoáng từng lời phú

Hình bóng thanh cao mọi sự lành

Chọn lọc câu từ thành đắt giá

Chắt chiu hình tượng vẽ nên tranh

Mấy lời cảm tạ người trong chữ(1)

Chúc “Đức”, “Trí”, “Nhân”...con cháu anh

(1) Đoc bài “ Cảm tác” chưa gặp tác giả.

 

QUÀ CƯỚI TẶNG HAI CHÁU SƠN – THUỶ

 

          Sắt son tình nghĩa vợ chồng

Ơn trời phúc tổ mặn nồng trăm năm

          Nghĩa cha tình mẹ ghi tâm

Thân thích nội ngoại thảo thơm ân cần

          Hoà vui làng – phố xa gần

Uyên ương đôi lứa mãn phần chăm lo

          Yêu nhau biết nhận biết cho

Rạng ngời hạnh phúc tiền đồ cháu con.

                                        Tháng 4 – Tân Mão – 2011

 

           Ghép các phụ âm đầu theo chiều dọc thành tên.

 

         TẶNG TÁC GIẢ “ HỒN QUÊ”

 

1.Thể song thất lục bát:

Đọc thơ cụ Nguyễn Tuân phà Vạn

Chuyện “ Đường đời” “Tặng bạn” “Hồn quê”

“Khó quên “ “Vịnh cảnh Lăng Lê”

“Lên quốc tử giám” “Về quê” “Kén chông”

“Cảnh nhà” “Chùa Vĩnh Long” “Từ Thức”

“Lên tiên” “Chùa Biểu đức” “Mùa xuân”

“ Tiên học lễ, hậu học văn”

“ Hoạ thơ nữ sĩ Ngọc Cầm”, “Tham quan”

“ Than cảnh nghèo” “Tiếng đàn ái oán”

“ Hoài cổ thi” “Nhớ bạn tri âm”

“ Xuân tri kỷ” “ Tiết thu sang”

“ Nghĩa phu thê” “ Hỏi mua hàng” “ Thanh minh”

“Cảnh làng” “Đồn Ba Đình” “Phụ lão”

“Trồng cây” “ Hiếu phụ mẫu”...vân vân

Ngót trăm thi phẩm nên vần

Lắng lòng tác giả bội phần thiết tha.

                                           21/01/2011

 

2. Thể thơ lục bát:

          Đọc thơ của cụ Nguyễn Tuân

“Hồ Tây cảnh đẹp” “ Vui xuân hai ngàn”

                   “ Thành Tây Giai” “ Chùa Vĩnh Long”

“ Xuân tri kỷ” “ Cô lái đò ngang” “Kén chồng”

                   “ Cá vàng” “ Nữ hữu” “ Tam tòng”.

 

“Đồng tiền” “Kiến thiết ruộng đồng” “Về quê”    

                   “ Khó quên” “ Vịnh cảnh Lăng Lê”

  “ Hỏi mua hàng” “ Nghĩa phu thê” “ Cảnh nhà”

          “Thiệu Nguyên lịch sự diễn ca”

“ Đông Đô cảnh đẹp” “ Cây đa Tân Trào”

                   “ Thuyền không lái” “Than cảnh nghèo”

 “ Mừng nhà mới” “ Cảnh Kim – Kiều gặp nhau

                   “ Hiếu phụ mẫu” “ Chơi trăng thu”

“ Hồ Gươm đền Ngọc” “ Biển hồ Tây nguyên”

                   “ Thanh minh” “ Từ Thức lên tiên”

“ Tặng bạn” “ Âm thuỷ tư nguyên” “Cảnh làng”

                   “ Thơ chúc thọ” “Tiết thu sang”

“ Tham quan” “ Cô gái bán hàng đêm xuân”

                   “ Tiên học lễ, hậu học học văn”

“ Hoạ thơ nữ sỹ Ngọc Cầm” ...”Thiết tha”

                   Ngót trăm tác phẩm thi ca

Bắc Nam một dãi sơn hà kết liên

                   Núi rừng sông biển đôi miền(1)

Thu đông bảy chục(2) nỗi niềm “Hồn quê”

                   Càng đọc càng thấy say mê

Trí minh, tâm sáng thơ đề thiện chân

                   Đọc xong ghi lại mấy vần

Chỉ mong nói được đôi phần tập thơ.

 

(1) Thơ “đi” khắp đất nước: Trong Nam, ngoài Bắc

(2) Bao quát thời gian gần 70 năm: 1942-2010.

 

      THƠ TẶNG ÔNG HẢI

ĐÁP LỜI:

 

          Tôi về anh cũng sắp về

Tuổi đời anh ít, tuổi nghề hơn tôi

          Ta cùng lấy NGHIỆP làm vui

Gian nan vất vả qua rồi cả hai

          Chữ tâm cùng với chữ tài

Mục tiêu phấn đấu dùi mài thường xuyên.

          Có khi gợn chút buồn phiền

Việc này, việc nọ - tất nhiên ở đời

          Cuối cùng hoa quả tốt tươi

Cái gì mình có mình vui thường tình

          Mấy lời tâm huyết đinh ninh.

                                                                15/11/2006

 

ĐỌC TẬP THƠ TIẾNG LÒNG

CỦA VŨ THANH HẢI – ĐỀ TẶNG

 

Ngót trăm bài thơ của anh

“ Tiếng lòng” xúc cảm chân tình sáng tươi

“Thơ” “núi non bộ nhà tôi”

“Tình thông gia” “chuyện trái tai” “vô đề”

“Chiếc cầu huyền thoại” “đam mê”

“Vào mùa” “chia tay mùa hè” “tương tư”

“Tản mạn” “văn minh chung cư”

“Ơn thầy cô” “kỷ iệm xưa” “luật đời”

“Uôn – cúp hai không trăm mười”

“Sống vui, sống khoẻ” “vọng lời bà ru”

“Xin chừa” “khoảng lặng chiều thu”

“Nhớ lời Di chúc Bác Hồ” “sắc xuân”

“Tiễn bạn” “tuổi trẻ hải quân”

“Hoài cảm” “mừng Đảng mừng xuân” “lòng thầy”

“Nắng hè hai không trăm mười”

“Tâm tình của sóng” “cuộc đời bố tôi”

“Chấm phá kí ức cuộc đời”

“Đỉnh đồi hóng gió mát” “lời dặn con”

“Mắt người yêu” “vịnh mâm cơm”

“Câu đối Tết” “câu đối xuân Canh Dần”

“Cười mượn” “nhớ văn chỉ làng”

“Đôi lời nhắn nhủ” “nắng vàng tuổi xanh”

“Đà Lạt hòn ngọc long lanh”

“Anh tôi” “đi bộ dưỡng sinh” “không đề”

“Lời của sóng”, “Ký ức nghề”

Kết tinh tâm trí say mê một đời

Chắt chiu sáng ý, đẹp lời

Góp thêm hương sắc cho ngời vườn thơ.

                                                                             19/8/2021

Đặc sắc của bài thơ: Lấy tên các bài thơ trong tập thơ,

ghép vần thành bài thơ tặng.

 

ĐỌC “NHẬT KÝ NHỮNG TRANG THƠ”

    Của Phạm Nguyên Tiên – Cảm tác

 

1. Một trăm linh sáu bài thơ:

“Xuân” “Sau” “Chào hội” “Phố xưa” “Buổi đầu”

“Hỏi quan” “Vận nước về đâu”

“Chuyện xưa nay” “Mối tình đầu” “Vấn vương”

“Vì con” “Câu cá” “Quê hương”

“Vinh quang nối tiếp vinh quang” “Xuân về”

“Tình quê của đất” “Thăm quê”

“Dăn cháu gái” “Yêu làm chi” “Mặc đời”

“Mười năm đổi mới” “Bác ơi”

“Kinh đô xưa” “Tết” “ hỏi trời” “Thu sang”

“Viếng anh” “Lỡ hẹn” “Ngắm trăng”

“Nhớ “Kỷ niệm ngày tòng quân” “Đổi đời”

“Thương em” “Thi cử” “Trách đời”

“Tự bao giờ” “Huế” “Bá ơi” “Đời mình”

“Thăm trường xưa” “Đừng giận anh”

“Nhớ em” “Thu đến” “Lam kinh” “Ngỏ lời”

“Cảnh thu” “Sông Mã quê tôi”

“Bến xưa” “Ngày ấy” “Nhắc ai” “Vô đề”

“Cầu Mỹ Thuận” “Con đi thi”

“Tình em” “Duyên muộn” “Giá như” “Sai lầm”

“Viếng Tây Đô” “Mối tình cảm”

“Cô láng giềng” “Cảm xúc xuân” “Hạ về”

“Cái mặt thật” “Tình trang thơ”

24.“Yêu” “Thương” “Ghét”...tiếc, ước mơ, căm thù

Có tầm tâm lớn lo âu

Tương lai đất nước cơ đồ non sông

Câu từ hình ảnh tươi trong

Chất thơ toả sáng tấm lòng người thơ.

                                                           Tháng 10-2011

    Đọc câu 1 nối câu 24 vẫn đủ ý nghĩa.

 

       CHÚC LUÂN -  QUỲNH

       (Nhân dự lễ cưới hai cháu)

 

                   Lứa đôi hoà hợp duyên trời

Uyên ương chấp cánh trọn đời thuỷ chung

                   Ấm êm một mái trùng phùng

Nắng mưa chia sẻ lạnh lùng có nhau

                   Quý yêu nồng đượm cao sâu

Ung dung tự tại trước sau vẹn toàn

                   Yến anh xun họp cháu con

Nội ngoại hiếu thảo sắt son nghĩa tình

                   Hạnh phúc hai chữ đinh ninh.

                                    12/02/ Ất Mùi – 2015

 

ĐỌC “TÌNH THƠ” CỦA CHU MẠNH LẬP

(Cảm tác- Gửi tặng bút danh Thanh Tùng

Đ/C: Phú Mỹ - Phú Sơn – Ba Vì – Hà Nội)

 

                   “Thơ tình” “ Tâm sự cùng thơ”

“Tiếng lòng” “Nỗi nhớ” “Đôi bờ” “Thuỷ chung”

                   “Gió lào” “Đêm trăng” “Bâng khuâng”

“Buồn” “Thương” “Chia sẻ” “Xuân yêu” “gửi tình”

                   “Vắng sao” “Tự hỏi” “giật mình”

“Suối vòng” “Núi biếc” “Mưa nguồn” “Mưa ngâu”

                   “Về Thanh Sơn” “Tiếng đàn bầu”

“Cà phê thức “Sáng” “Trưa” “Chiều” “Hoàng hôn”

                   “Sang sông” “Dòng nước” “gió nồm”

          “Tình cờ” “Tin nhắn” “Trang buồn” “Vu vơ”

                   “Qua làn sóng” “ Chiều tâm tư”

          “Kiếp sau” “Chim lạc” “Bao giờ” “Duyên thơ”.

 

          “Hỏi chị Hằng” “Tình trong mơ”

“Tình yêu yên lặng” “Vương tơ” “kiếp này”

          “Tiếng ru xa” “Giấc mơ bay”

“Hương đời muôn thuở” “Nhớ ai” “Đèo bòng”

          “Bạn thơ” “Lắng lại” “Đêm đông”

“Ru em” “Thơ rượu” “Lửa lòng” “Tháng ba”

          “Yêu” “Xuân” “Một chút tình thơ”

“Gió đông” “Mây gió” “Gió mùa” “Cầu mong”

          “Xuân đa chiều” “Nghiêng” “Long đong”

“Bên kia sông Bứa” “Mênh mông” “Giao mùa”

          “Vào đền” “Chờ đợi” “Vào chùa”

“Mà sao” “Trách” “Nhớ bạn thơ” “Độc huyền”

          “Nhớ người trong mộng” “Trời nghiêng”

“Tình thơ trong mộng” “Cô đơn” “Thác ngà”.

 

          Hơn trăm thi phẩm say mê

Câu từ hình tượng hướng về chữ TÂM

          Sáng chữ TRÍ cao chữ TẦM

“TÌNH THƠ” để lại tri âm nỗi niềm

          “Từ trái tim đến trái tim”.

                                               23-11 Giáp Ngọ - 13/01/2015

 

TẶNG HAI CHÁU TOÀN – CHI

           Nhân ngày cưới

 

          Thuỷ chung đôi lứa duyên trời

Oanh tuỳ yến xướng trọn đời yêu thương

          An khang phúc lộc thọ trường

Nghĩa ân nội ngoại đôi đường vẹn đôi

          Cháu con hiển đạt với đời

Hoa thơm quả ngọt rạng ngời tổ tiên

          In sâu tâm khảm lời nguyền

Toàn chí phấn đấu chí bền tâm kiên.

                                                                    10/chạp Ất Mùi

 

 

ĐỌC TRƯỜNG CA ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

Của anh Ngô Xuân Tiếu – ĐỀ TẶNG

 

 

Viết về một con đường huyền thoại

Về ngày qua để lại ngày mai

Chữ tâm cùng sánh chữ tài

Câu từ hình tượng sáng tươi mặn mà

Còn thiếu sót chẳng qua khó tránh

Cơ bản là điểm mạnh toát ra

Từ trong gai góc nở hoa

Góp thêm một bản trường ca cho đời.

                                                               Tháng 7/2011

 

 

ĐỌC CHÙM THƠ CỦA THẦY TRUY

GHI CẢM NHẬN

 

          Chùm thơ “Chuyện vặt” của thầy

Ghi lại kỷ niệm những ngày học sinh

          Sâu xa thấm thía nghĩa tình

Khó khăn gian khổ vượt mình tiến lên

          Là những bài học đầu tiên

Vào đời chững chạc trên nền chữ TÂM.

                                                                  01/4/2011

 

PHẦN V: SÁNG TÁC THÔNG THƯỜNG

 

                 TÂM SỰ TUỔI GIÀ

     ( Đọc bài viết của Chu Dung Cơ – cảm tác)

 

Để phút lâm chung “chấm hết tròn”(1)

Phải lo từ cái sự con con

Việc làm, ăn uống cho chừng mực

Ứng xử, nói năng Gắng vẹn toàn

Chấp nhận khó khăn cùng thuận lợi

Thích nghị bùi ngọt với tân toan

Khơi trong lắng đục tôn “tri túc”

Hy vọng lâm chung đạt “chấm tròn”

                                                             Xuân Nhâm Thìn

(1) Chu Dung Cơ – Thủ tướng Trung quốc kết luận:

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại

được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao

sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối

cùng ĐẤT cho mình dấu chấm hết thật TRÒN.

 

            CÓ MỘT CHUYỆN BUỒN

 

                   Ông kể cổ tích cháu nghe

Ông cháu thủ thỉ say mê ngày ngày

                   Mẹ cháu chua chát tỏ bày

Ông làm khổ cháu - sự này cơ nguy

                   Ông buồn không nói được gì.

 

     LẤY CHỒNG NGOẠI

 

“Cái gái đời nay gái mới ngoan” (Nguyễn Khuyến)

Vun đầy chữ HIẾU báo song thân

Đài Loan, Hàn Quốc không chùn gối

Trung Quốc, Ma Lai chẳng rụt chân

“Phục vụ” cha con đành chấp nhận

“Dùng chung” huynh đệ phải ân cần

Chiều dày lịch sở chưa từng có

So với Kièu nhi gấp vạn lần.

                                                    17-4-2011

 

    Luật bằng: GHI CÔNG ĐỨC

 

Tổ tiên chứng giám tấm lòng thành

Cống hiến vô tư: Hồ Hữu Hành

Xây mới nhà thờ bền vững đẹp(1)

Trùng tu phần mộ sáng anh linh(2)+

Đầu tư đường sá mong thông thoáng(3)

Khuyến học con em ước hiển vinh(4)

Công đức đương thời gương sáng toả

Truyền đời dòng họ mãi lưu danh.

                                                       27-01 Tân Mùi

(1) Xây nhà thờ họ 2007 (toàn bộ).

(2) Tôn tạo 9 ngôi mộ 2009 (toàn bộ).

(3) Góp tiền làm đường 2011 (50%).

(4) Lập quỹ khuyến học cá nhân từ 2011

Cháu đậu ĐH 500.000đ, CĐ: 300.000đ

Cho đến khi học xong. HS giỏi: 100.000đ.

 

      Luật trắc:   GHI CÔNG ĐỨC

 

Công đức đời mười một: Hữu Hành

Tổ tiên chứng giám tấm lòng thành

Nhà thờ xây dựng to bền đẹp

Phần mộ tân trang sáng hiển linh

Đóng góp cho đường đi thoáng đạt

Khuyến tài mong lớp trẻ thành danh

Truyền đời ghi nhớ noi gương sáng

Dòng họ lưu tên cháu Hữu Hành.

                                                                   Xuân 2011

 

                           BẾ TẮC

 

Các cháu hay so đo

Ông gấp đôi tờ giấy

Cắt hình chiếc ô tô

Cho mỗi đứa một chiếc.

            * *

             *

Anh bảo “xe em to”

Em nói “ xe em nhỏ”

Ông xử hoà trao đổi

Thế mà chúng vẫn nói

“Xe của cháu nhỏ hơn”.

                                                          15/10/2011

             

Đài tiếng nói Việt Nam giới thiệu tập thơ

làm bằng chữ Hán của cụ Cao Huy Dĩnh:

 Đứng vai các nhân vật theo các sự kiện,

ví dụ: Câu nói về Kiều làm thơ: Câu 100:

“Vạch ra cây vịnh bốn câu ba vần”.

Cụ Cao Huy Dĩnh trong vai Kiều làm bài thơ đó.

Hay câu nói về Sở Khanh làm thơ: Cách tường

nghe có tiếng đâu hoạ vần”. Cụ Dĩnh trong vai

 họ Sở làm thơ ( 22 bài). Cảm phục làm bài giao lưu:

 

   TẶNG BÁC CAO HUY DĨNH

 

Xưa nay ngưỡng mộ trước trang “Kiều”

Tập, lẫy, ngâm, ru...kể đã nhiều

Nay thử làm thơ theo tiết mục (sự việc)

Đã thành thi phẩm sáng niềm yêu

Vô tiền khoáng hậu duy mình bác

Minh trí thanh tâm hội tụ siêu

Tôn kính cháu không ghi hết nỗi

Chúc mừng bác thọ với trang “Kiều”.

 

Bác Cao Huy Dĩnh tiếp nhận, giao lưu

Kết bạn vong niên. Bác là hậu duệ đời

 thứ 6 của cụ Cao Bá Quát. Bác Dĩnh hoạ lại:

 

        MỪNG THÊM TRI KỶ

 

Kho báu Việt Nam có truyện “Kiều”

Khắp nơi ngâm ngợi cảm thông nhiều

Xứ Thanh Duy Diến thư bày tỏ

Tôn quát Thái Nguyên rất đáng yâu

Máy chục bài thơ bằng chữ Hán

Bao người ca tụng tác gia siêu

Cám ơn tình cảm tân thi hữu

Xin kết kim lan xướng họ “Kiều”.

                                          14/7/2010

Tôn Quat – Cao Huy Dĩnh

Chùa Hang – Đồng Hỷ - Thái Nguyên

 

ĐỀ ẢNH CỤ CAO HUY DĨNH

 

Ngắm hình cụ lão thành cách mạng

Tóc pha sương vầng trán thông minh

Mắt hiền đăm đắm đượm tình

Đôi tai trường thọ an bình nội tâm

Thẳng sống mũi vuông cằm rộng miệng

Hẳn nói lời vang tiếng ngân chuông

Ngực hồng lấp lánh huân chương

Như một vị tướng – đời thường tôn vinh.

                                                                                 28-10-2010

CẢM TƯỞNG ĐỌC

THƠ BÁC CAO HUY DĨNH

 

Đọc thơ “Tâm sự đầu xuân”

“Nàng Tô Thị” “Hữu nghị quan” “Thuý Kiều”

“Chan hoà tình cảm” “ xuân giao”

“Ông Đênh” “Đọc hoạ bạch đầu” “Xuân” “Vui”

“ Chào ngày mồng một tháng mười”

“Ca trù đôi khổ”  “Làng tôi” “Bác Hồ”

“Kiều lấy chồng” “Khóc Nguyễn Du”

“Ngán anh chàng Thúc” “Hoạn Thư” một ngày.

 

Trăm bài càng đọc càng say

Bởi tâm – tài bác phô bày dịu êm

Hình ảnh sinh động tự nhiên

Câu từ chọn lọc dệt nên thơ – đời

Chân thành nhận xét mấy lời

Niệm tâm: Gương bác sáng ngời cháu noi.

                                                                          7-10-2010

 

Nghe Đài tiếng nói Việt Nam giới thiệu bác Cao Huy Dĩnh

trực tiếp đọc bài thơ “Bà đi tôi ở lại” nhân xuân Nhâm Thìn,

gửu tặng bác bài “Cung chúc”vừa chúc Tết vừa chia sẻ

 động viên (Hoạ bài “Cung chúc” của ông Nguyễn Văn Hội

trang 19.

 

                  CUNG CHÚC TÂN XUÂN

                             AN KHANG THỊNH VƯỢNG

 

Cung kính:  Bài “bà đi tôi ở lại”

Chúc lời gan ruột cháy thăng hoa

Tân niên con cháu vui vầy lại

Xuân nhật, hiền thê nhớ thiết tha

An tâm tin tưởng đàn con trẻ

Khang kiện hoà vui các bạn già

Thịnh vận lo gì chim mỏi cánh

Vượng thời thơ bác vân vang xa.

                                                            6-01-2012

 

       ĐẤT THÀNH NHÂN

 

Đất này cát vượng tụ thành nhân

Tiền bối sinh cơ thịnh bội phần

Con cháu đi ra đều hiển quý

Ông bà ở lại thảy trường xuân

Nông thôn tiến bộ, nhờ liêm chính

Làng xóm giàu sang, bởi kiệm cần

Đổi mới đi lên cùng đất nước

Gốc là đồng thuận Đảng và dân.

                                                                20-8 Quý Tỵ

24/9/2013- ngày động thổ làm cổng làng

Thành Nhân. Tặng làng Thành Nhân – đã in

Trong tập thơ “Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”.

 

   LÀNG LÊ SƠN

 

Lê Sơn tên núi đẹp tên làng

Trải mấy thăng trầm thật vẻ vang

Lê tốt tươi cây phù vật thịnh

Sơn bền vững núi trợ nhân khang

Ông bà ở lại đều vui vẻ

Con cháu đi ra thảy giỏi giang

Nhịp bước đi lên cùng đất nước

Nông thôn đổi mới thật giàu sang.

                         21-3 Quý Tỵ (30-4-2013)

 

Ngày khánh thành cổng làng Lê Sơn.

Cổng làng đấp đôi câu đối ông Diến tặng:

“ Lê thơm muôn hoa, nhờ phúc tổ tiên

                                     xây nền tảng

Sơn thắm ngàn lộc, có công con cháu

                                 dựng tương lai

 

 

   Ngưỡng mộ trước đền nàng Bình Khương

 

Bình Khương tiếp nối Mạnh Khương

Xây thành đắp luỹ đoạn trường giống mhau

Than rằng “đất thấp trời cao”

Hằn sâu dấu đá nỗi đau muôn đời.

                                                                        21-6-2017

 

SUỐI CÁ THẦN CẨM LƯƠNG

 

Du lịch tham quan suối cá thần

Thiên nhiên kỳ vĩ giữa dương trần

Nước trong cá tụ quây tròn chậu

Bóng rợp cây cao tiếp bạch vân

Đền Ngọc tôn nghiêm thờ rắn trắng

Văn bia trang trọng kính Long ân

Môi trường xanh sạch bền sinh thái

Đệ nhất linh thiêng quý bội phần.

                                                           22-8-2010

 

 

HANG TRƯỜNG SINH CẨM LƯƠNG

 

Trường Sinh hang động thật cheo leo

Hứng thú cho nên phải gắng trèo

Thạch nhủ phô mây mưa khéo tạc

Rễ cây bám đá gió tài treo

Âm dương hoà hợp cùng thư thái

Trời đất linh thiêng đáng tự hào

Lên động một lần cho thoả nguyện

Ra về xúc cảm mãi dâng trào.

                                                  21-9-2010

 

Cả 2 bài đã đưa vào Wegsite huyện Cẩm Thuỷ.

 

        THIỀN VIỆN TRÚC LÂM HÀM RỒNG

 

Trúc Lâm thiền viện giữa dương trần

Phật tử hướng về Mỹ Thiện Chân

Già trẻ dâng hương tròn ý nguyện

Gái trai vãn cảnh thoả tinh thần

Nghe kinh một dạ tu tâm đức

Niệm phật mười phương luyện trí nhân

Đẹp đạo tốt đời là chính quả

Xanh tươi cuộc sống tiếng chuông ngân.

                              Kỷ yếu “Thiền viện...” Tháng 7-2010

 

In trong tuyển tập “Tiếng vọng mai sau”

và “Thơ hay ba miền” tập 3.

 

     HOÀ ĐỒNG NHỊP QUỐC CA

 

Lãnh thổ bao đời đất nước ta

Cực đông Tổ quốc đảo Trường Sa

Cao dày lịch sử ngời chân lý

Nhất thống giang sơn đẹp gấm hoa

“ Tấc đất tiền nhân không để mất”(1)

Tuổi xanh hậu thế quyết xông pha

Hồn thiêng sông núi ngăn xâm lược

Cả nước hoà đồng nhịp Quốc ca.

                                                       13/7/2014

(1) Đọc trực tiếp trên đài tiếng nói Việt Nam chương

trình “Viết tiếp bài ca người lính” 14h30 phút

ngày 30-8-2016.

 

          ÔNG ĐI THÀNH PHỐ

 

           Ông đi thành phố với con

Tiện nghị hiện đại hỏi còn gì hơn

          Mấy ai thấu tỏ nguồn cơn

Rằng ông bị nhốt cô đơn nặng nề

          Đến thăm bạn đứng ngoài hè

Chuyện trò, tai, miệng sát khe cửa dày

          Ra về khoé mắt cay cay.

                                                          2012

 

 

    CÂY NA CHẾT KHÔ

 

          Vườn ông trồng mấy cây na

Cháu ăn quả ngọt na già chết khô

          Tưởng đem làm củi hoá tro

Ai ngờ mộc nhĩ mọc cho mấy tầng.

                                                               2012

 

             LỤC BÁT

 

                   Lục bát là lục bát ơi

Gieo vần lục bát dễ chơi thôi mà

                   Nhưng làm sao để thành thơ

Cả đời phấn đấu, ước mơ khó thành.

 

                     VẦN THƠ LẺ

 

1.            Chuẩn bị ngày cưới con trai

Ông rằng: Ghi chép không được thiếu

                             Những ai đưa phong bì

                Bà liền tiếng bấc tiếng chì

Đứa nào không đến thì ghi cho bà.

                                                                  2011

2.      Chưa lên tỉnh lấy một ngày  

                    Hương đồng gió nội đã bay sạch rồi.

                  

Trong bài “ “Thư gửi cả Chiêm” nhà báo

Trung Tuyến đọc trong chương trình

“Bạn hãy nói với chúng tôi” hệ VTV2

Đài tiếng nói Việt Nam 22h30 phút ngày 13-02-2009.

 

3.           “ MẮT” TRỜI – Ý ĐẢNG – LÒNG DÂN

 

          Ông trời ngàn đời có mắt

Lưới trời lồng lộng chụp bắt tham ô

          Quan tham dù nhỏ dù to

Lòng dân ý Đảng quyết cho vào tù.

 

Phỏng thơ lục bát vần trắc “Tò vò mà nuôi con nhện”

 

         THƠM DANH

(Nhớ ơn liệt sỹ Phạm Văn Hinh)

 

Thơm danh muôn thuở Phạm Văn Hinh

Tình huống nguy nan giữa tử sinh

Cách mạng cần an toàn lực lượng

Non sông ắt tiến tới hoà bình

Yêu cầu đồng chí cho siêu thoát

Lại khiến quân thù phải thất kinh

Hẳn cụ ngậm cười nơi chín suối

Dân nay hạnh phúc. Nước phồn vinh.

                                                                    6-9-2013

In trong tập “Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”

Giải nhì cuộc thi thơ “Chào mừng 60 năm

thành lập chi bộ đầu tiên ở Vĩnh Lộc.

 

NHỚ ANH HỒ ĐỨC VIỆT

 

Thanh thản anh đi? Nhớ tiếc nhiều

Bâng khuâng hồi tưởng lễ cầu siêu

Quỳnh Lưu – Cầu Giát thời oanh liệt

Vĩnh Lộc – Tây Đô phút tự hào

Công tác anh đi vùng Đắc Lắc

Tâm linh lòng hướng chốn Nam giao

Trẻ già tuổi thọ do trời định

Quan trọng là ta sống thế nào.

                                                        2-9-2013

In trong “Bản tin họ Hồ Việt Nam”

số 37 trang 31.

 

        GỬI QUẢNG BÌNH

(Theo gợi ý của Nguyễn Xuân Huế)

 

Đát lửa hiên ngang – Đất Quãng Bình

Tuyến đầu chấp nhận mọi hy sinh

Đạn bom – địch hoạ - ngời trung dũng

Hạn lụt – thiên tai – sáng nghĩa tình

Nhật Lệ sóng xô tan đói khổ

Đại Phong gió lộng đón phồn vinh

Đi lên hoà nhập cùng non nước

Truyền thống nêu cao mãi Quãng Bình.

                                                                  Tháng 10-2013

 

 

NGHỈ VỀ VỤ XỬ VI – NA – LAI

 

Nghĩ về vụ xử Vi – na – lai

Xúc cảm giao hoà kỳ lạ thay

Căm lũ gian tham đua đục khoét

Thương người vô học cứ làm sai

Xót dân lương thiện lo chùng gối(1)

Mừng Đảng công minh trị thẳng tay

Hy vọng mau xua tan quốc nạn

Dân an nước thịnh đón tương lai.

                        Ngày tuyên án vụ Vi na lai 16-12-2013

 

(1)  Người dân gánh nợ còng lưng

chùng gối vì quá nặng.

 

QUA SỞ GIÁO DỤC

 

Về hưu mới sáu bảy năm

Hôm nay có dịp ghé thăm sở nhà

Lên hè đưa mắt nhìn qua

Ra vào tấp nập toàn là ...không quen

Cầu thang mấy nhịp bước lên

Rảo chân sục sạo tìm thêm mấy phòng

Được nghe các cháu chào ông

Người quen quả thật là không ai còn.

                                                9-4-2013

 

       BUỒN VUI

(Về vụ xử án tham nhũng)

 

Buồn vui quy luật giữa dòng đời

Xét xử phân minh thoả dạ người

Buồn bởi quan tham đâu cũng có

Vui vì nghiêm trị khắp nơi nơi

Chỉ e phạm tội mà che lấp

Không sợ phanh phui mặt xấu phơi

Cắt bỏ khối u rồi khoẻ mạnh

Yên vui xã hội đẹp xây đời.

                                                  Tháng 4-2013

     ĐẤT NƯỚC MÌNH

 

Cô giáo hỏi:

“ Đất nước mình ngộ quá phải không anh”?

Có người đáp:

“ Đất nước mình không ngộ đâu em”!

 

Cả hai bạn đều tỏ lòng yêu nước

Nhưng phiến diện - ở hai đầu thái cực

Người chỉ thấy màu đen - bế tắc

Người lại lạc quan tất cả...màu hồng

Hãy khách quan nhìn lịch sở cha ông

Có Ích Tắc và Lê Chiêu Thống

Nhưng kỳ vĩ bao trùm lên là Hưng Đạo, Quang Trung

 

Đứng trước biển có bình minh yên ả

Cũng có khi sóng dậy bão bùng

Sự vật là tổng hoà tốt xấu

Vấn đề là xu thế về đâu

Trước đền Hùng Vương ta rất đỗi tự hào

Ngắm “Cao Sơn cảnh hành” bốn chữ

(Thế hùng dũng đường đi rộng mở)

Dân tộc đi lên ngàn vạn thuở

Có thăng trầm lúc thịnh lúc suy

Trước “hôm nay” ta nghĩ và làm gì?

Xin hãy làm chị lao công quét rác

Xanh sạch môi trường đẹp lối ta đi.

                                                                         21-6-2016

      In trong tập “Thi đàn Việt Nam tiếng thơ vọng mãi”.

 

           Vĩnh Lộc

 

          Vĩnh Lộc vững thành nhà Hồ

Đẹp núi tiến sỹ thiêng chùa Tường Vân

          Tôn nghiêm đền Trần Khát Chân

Chùa Giò thắng cảnh động Hồ Công “thanh kỳ”

          Mã giang bờ bãi xanh rì

Sơn Phòng, nghè Vẹt, tiếp về Tiên Sơn

          Một vùng tươi đẹp nước non

Văn hoá lịch sử- vàng son bao đời

          “Ai về nhớ táo Phương Giai

Nhớ ổi Đa Bút nhớ khoai làng Bồng”

          Ai về ai có biết không

Ai đi chín nhớ mười mong ngày về.

        

            In trong “ Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”.

 

KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP

TRƯỜNG THPT TỐNG DUY TÂN

 

Trường mang tên Tống Duy Tân

Là niềm vinh hạnh muôn phần em ơi

Chung tay vun đắp vườn đời

“ Có tiền khó chuộc” sáng ngời sử xanh.

                                                                      12-11-2013        

      Hoa nở đúng mùa

 

          Nhớ thời huyện Uỷ, uỷ ban

Trụ sở không có việc làm nhà dân

          Hà Lương, Cổ Đệp, Bái Xuân

Chở che giúp đỡ tình thân đậm đà

          Khó khăn gian khổ vượt qua

Quân, dân, chính đảng xông pha đồng lòng

          Núi Chè bừng dậy ngói hồng

Khu nhà cấp bốn một vùng khang trang

          Từ đây cơ sở đàng hoàng

Lòng dân ý Đảng rộn ràng hoà ca

          Đi lên hợp sức thuận đà

Nông thôn đổi mới nhà nhà ấm no

          Cầu cứng thay thế bến đò

Trạm xá, trường học đẹp to vững vàng

          Nhà tầng san sát phố - làng

Đường bê tông hoá nẻo gần nẻo xa.

         

          Trụ sở Huyện Uỷ nguy nga

Trên bối cảnh ấy: Nở hoa đúng mùa.

 

Khởi thảo ngày khánh thành trụ sở Huyện Uỷ

ngày 18-11-2003. Hoàn thành ngày 02-9-2013

In trong tập thơ “ Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”.

 

        

    VỀ THĂM LÀNG CŨ

            (Hồn quê)

 

          Về thăm làng cũ đượm sầu

Cây đa giếng nước còn đâu mà tìm

          Bồi hồi nhói loạn nhịp tim

Ngước lên trời rộng: Cánh chim dật dờ

          Điếm canh đâu? Lại ngẫn ngơ

Bạn chơi trận giả bây giờ ở đâu?

          Mọc lên san sát lầu cao

Lanh lùng cổng sắt lối vào nhà ai?

          Trãi bao ngày rộng tháng dài

Thời gian vật đổi  sao dời – bề dâu

          Quê hương tươi đẹp mạnh giàu

Mà sao trĩu nặng  mối sầu trong ta

          Mái đình giếng nước cây đa

Mãi trong ký ức đậm đà hồn quê.     

         

In trong “ Đất nước tình yêu” và “Thi đàn Việt Nam –

tiếng thơ vọng mãi” . Tiếp in trong tạp chí

‘ Văn chương Việt Nam”.

 

 

       

      THĂM BẠN ỐM

( Bạn Trần Đình Lan – Phong Hậu – Quỳnh Mỹ)

 

Tuổi trẻ cùng vui một mái trường

Lớn lên mỗi đứa một con đường

Bạn vào bộ đội, ra tiền tuyền

Tôi nhập trường Vinh, ở hậu phương

Tốt nghiệp, trồng người, tôi phấn đấu

Ra quân, trở lại, bạn mang thương

Bùi ngùi thăm bạn: Trên giường bệnh

Bạn vẫn cười tươi – đẹp vĩnh trường.

                                                           2010

           In trong “ Tuyển tập thơ Đường xứ Thanh”

 

              CỔ TÍCH

 

Cổ tích ngàn năm vẫn đậm đà

Kho tàng vô giá của ông cha

Ân cần cha kể - ươm mầm biếc

Hứng thú con nghe – hẹn thắm hoa

Hiện đại toàn cầu tin nối mạng

Cổ truyền dân tộc nhạc dân ca

Thị trường cơ chế cùng hoà nhập

Bản sắc tinh hoa vẫn mặm mà.                                         

                                                                      2010

Cả 2 bài in ở “ Tuyển tập thơ Đường

xứ Thanh- tập 2”.

 

CHIẾU DỜI ĐÔ – CẢM TÁC

 

Noi theo gương sáng tự Thương Chu

Thái Tổ anh minh định đế đô

Hổ phục – rồng chầu – nên thắng địa

Dân Yên nước thịnh đặng thiên thu

Thuận lòng dân, cháu con hưng phúc

Kính mệnh trời, tiên tổ phụng thờ

Gốc ở từ bi và quyết đoán

Ngàn năm bất hủ “chiếu dời đô”.

                                              19-5-2017

 

In trong “ Thơ Đường xứ Thanh – tập 2”.

 

QUA CẦU HÀM RỒNG NHỚ TẢN ĐÀ

 

Yêu say thơ cụ Tản Đà

Trải sương theo gió mặn mà đến nay

Đã từng say tỉnh – tỉnh say

Đã từng muôn đắng ngàn cay một thời

Đem văn lên bán chợ trời

Chợ trời nay ở giữa đời đâu xa

Qua Hàm Rồng – nhớ Tản Đà.

 

In trong “ Lời ru non sông” và “ Đất nước tình yêu”

“Thơ Việt Nam đương đại”.

 

  THỊ TRẤN VĨNH LỘC

 

Phần tư thế kỷ đã đi qua

Ghi nhận con đường thị trấn ta

Thành đạt vẻ vang – thế hệ trẻ

An vui khang kiện – lớp người già

Kế thừa nền tảng, tươi đời sống

Mở lối tương lai, đẹp khúc ca

Hoà nhịp đi lên cùng đất nước

“ Thông minh đô thị” hẹn thơm hoa.

                                              19-5-2017

Cảm xúc ứng tác tại hội trường nhân ngày

kỷ niệm 25 năm thành lập thị trấn.

 

           CẦU KIỂU

 

Cây cầu bao thế hệ hằng mong

Lừng lững cao dài vượt bến sông

Mấy bận lỡ đò hằng ngóng đợi

Bao phen cách trở bấy chờ chờ trông

Long dân mơ ước nay toàn nguyện

Ý Đảng thăng hoa mãi vẹn nồng

Bến cũ còn đây phà vắng bóng

Chia tay nỗi nhớ dậy xao lòng.

 

In trong “ Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”

và tuyển tập “Thơ Đường xứ Thanh – tập 1”.

 

           THỜI GIAN I

 

Từng nghe: Vật đổi lại dời sao

Quả thực, thời gian có phép màu

Núi đá - ngàn đời bay biến mất

Ao hồ - vạn thuở mọc lầu cao

Bến đò, cầu cứng vươn sừng sững

Ruộng lúa, sân gôn nhảy thượng vào

Có dỡ, có hay – ngoài ý muốn

Chi bằng cảm nhận lấy vài câu

                                              

           THỜI GIAN II

 

Ta từng khôn lớn giữa khoai ngô

Tôi bước chân đi khắp hải hồ

Tóc bạc da mồi quay trở lại

Má hông môi thắm của em mô

Chân vờn bóng bưởi từng xông xáo

Tay vịn can(1) tre bước dậm dò

Khắc nghiệt thời gian ai có thấu

Bồi hồi nhớ lại thuở khoai ngô

 

(1)Can: gậy.

 

        LÊN BÁ THƯỚC

          Đường lên Bá Thước lao đao

Lội ngần Điền Lư(1) leo dốc bàn Nhào(2) tướt bơ

          Đường vào Thục thấy trong  thơ

Mà đường Bá Thước bây giờ là đây

          Ai đem ta đến chốn này

Để cho ghẻ lở mọc đầy thân ta

          Hắc lào – cù đinh – tiêm la

Sốt rét ác tỉnh rồi ra quên đời.

       TRỞ LẠI BÁ THƯỚC

          Đâu rồi dốc Nứa ngày xưa

Dốc Cao hết thở, bây giờ thấp hơn

          Điền Lư ngầm đá rêu trơn

Gập ghềnh nước cuốn lắm cơn kinh hoàng

          Nay cầu cứng vượt sang ngang

Vi vu xe lướt ta sang Bàn Đào

          Quanh co khúc khuỷu lên cao

Cành Nàng sắp tới – nôn nao nỗi niềm

          Bồi hồi nghe loạn nhịp tim

Những ngày khoai sắn hiện lên dập dồn.

                           * * *

          Tranh tre nứa lá không còn

Toà ngang dãy dọc ngói son tường vàng

          Trong ngoài sau trước khang trang

Khu trường mới dựng ngỡ ngàng như mơ

          Trãi bao tháng đợi năm chờ

Bốn mươi năm ấy bây giờ là đây

          Bốn mươi năm sáng gương thầy

Trò bao nhiêu lớp dựng xây nước nhà.

          Mãi còn ngọt trái thơm hoa

Mãi còn vang rộn khúc ca cuộc đời.

Kỷ niệm 40 năm thành lập trường cấp 3

Bá Thước 1966-2006. Tháng 11-2006

In trong “Chung một mái trường và trong “ Thơ Bá Thước”

        

          LỜI THẦY

 

          Lời thầy lấy trong dân gian

Mà nghe thấm đượm tâm can cả đời

          Hôm tiễn em lên đường nhập ngũ

          Thầy năm chặt tay nói lời:

          “Chúc em chân cứng đá mềm”

          Ôi đá mềm chân cứng

          Đã giúp em đứng vững

          Trước sóng gió cuộc đời

Hơn ba mươi năm thấm thía một lời

Em trở lại là một người thành đạt

Thầy đã về hưu sống thanh thản đàng hoàng

Chia tay thầy vẫn nhỏ nhẹ dịu dàng

“ Người được lớn nhất là người biết điểm dừng”(1)

Em tạc vào lòng lời thầy dặn

Như vở mới sang trang.

 

(1) Dịch câu “ Nhân sinh nhất đắc trí túc hỷ”.

 

     “TỪ ẤY” ĐI LÊN

 (Kính tặng nhà thơ Tố Hữu)

 

“Từ ấy” ra đi rực ánh đèn

Trải bao thế hệ nức lời khen

Tuổi xanh yêu nồng nàn chân lý

Ánh sáng bừng lên giữa bóng đen.

 

Với Đảng đi lên không phút mỏi

Tuổi cao lý tưởng vẫn say men

Luyện rèn giúp bao tâm hồn trẻ

Mở lối giùm ai sống thấp hèn

Một lá cờ đầu cao phất mãi

Trùng trùng đội ngũ sát vai chen

Mạnh chèo vững lái kiên tâm tiến

Mỗi khúc ca xuân dậy hiệu kèn.

                                             Tháng 1 – 1981

 

Hoạ bài:  “ĐÊM CUỐI NĂM” CỦA TỐ HỮU

 

Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn

Dở hay khôn dại những chê khen

Làm ăn hai chữ quen mà lạ

Thế cuộc nhân tình rõ trắng đen

Gỡ lối bao xưa người mọc cánh

Được mùa khoán mới đất lên men

Tự cường mới biết ai gan góc

Luồn lọt hay chi phận yếu hèn

 

Cách mạng mừng thêm vai gánh vác

Hư danh chừng bớt kẻ đua chen

Dòng đời cứ chảy tan bèo bọt

Thế trận lòng dân nổi hiệu kèn

                             Thang 01 -1981

         

   VẤN NẠN GIAO THÔNG

 

Ngày ngày nghe vấn nạn giao thông

Căm giận thương đau đến quặn lòng

Giận kẽ say bia nhào nhác húc

Căm người khinh luật cuồng cuồng tông

Phóng nhanh vượt ẩu bao giờ dứt

Tang tóc đau thương cứ chất chồng

Hơn cả chiến tranh người thiệt mạng

Chung quy ý thức đúng hay không

                                                           16-6-2010

 

                    NÓI VỚI CON CHÁU

 

Chuyện cải cách hơn năm thập kỷ

Đến bây giờ ngẫm nghĩ còn đau

Nước mắt hoà với máu đào

Oan khiên thấu tận trời cao chín tầng.

         *    *

                       *

Đang yên ổn làm ăn thịnh vượng

Có ngờ đâu đại vướng tai ương

Rạng ngày vừa mới tinh sương

Ở đâu ập đến một phường giáo gươm

Cả gậy gộc súng trường thừng chão

Xông vào nhà sục sạo vét vơ

Chổi cùn dẻ rách không chừa

Nói chi giường tủ, trâu bò, nồi mâm

Xong mọi việc đóng sầm cánh cửa

Dán niêm phong “nhà của nông dân”

Dành cho nhà bếp một gian

Cả nhà chen chúc gian nan từ rày

Ông bị trói giật tay cánh khỉ

Họ giải đi mác dí bên hông

Cháu con lăn lóc quặn lòng

Từ nay ông sẽ vào vòng lao lung

Trước tiên họ điên khùng tra tấn

Đánh tơi bời máu bắn tường vôi

Xà nhà treo ngược chơi vơi

Tẩm dầu, châm lửa tả tơi thân già

Tiếng dãy giụa thét la rùng rợn

Họ ra đòn càng tợn càng hăng

Nổi danh tàn ác mấy thằng

Cháu con “khát nước” lăng băng – ra gì

 

Đó những món nợ ghi không trả

Trời công bằng đã rõ đến nay

Ông Vinh không chịu đắng cay

Tìm lên sông Thái cầu Tây trẫm mình

Ông Côn cũng quên sinh thắt cổ

Còn bao người sống có như không

Tử hình án quyết cho ông

Cả nhà choáng váng vân mồng ra sao

Bỗng quyết định trên cao ban xuống

Ông được xem xét xuống chung thân

Từ đây bố mẹ gian nan

Gánh thuê, hái củi, đốt than, đẽo cày...

Nghề hom nứa tháng ngày vất vả

Chặt cán thêu tất tả biển – rừng.

                        *    *

                           *

Đang đêm trời bỗng sáng bừng

Sửa sai, ông được về cùng cháu con

Song sản nghiệp chẳng còn chi cả

Hai năm tù ông ngã bệnh luôn

Về nhà chỉ được mấy hôm

Ông mất- khi ấy tuổi tròn năm lăm

Nay nghĩ lại còn căm còn uất

Bấm chí cùng trời đất vươn lên

Nhà cao đứng vững nhờ nền

Toàn gia vinh hiển thảo hiền có căn

Nay đổi mới làm ăn tấn tới

Nhắc cháu con chớ vội lãng quên

Hãy nuôi chí lớn tâm bền

Đức dày trí sáng vươn lên với đời.

                                                              9-12-2008

 

Bài dịch:  NGHÊNH TÂN MÃO XUÂN

         

1. ĐÓN XUÂN TÂN MÃO

 

Biết rằng xuân “khứ” lại xuân “lai”

Trãi vậy năm nay vẫn thế hoài

Việc đời chìm nổi xe lăn bánh

Sướng khổ đời người ngắn lại dài

Muốn được cao ngang tầm ngọn quế

Mong sao với tới tận cành mai

Người đời bình phấm dù hay dở

Riêng ta thành kính một lòng khai.

                                   Cụ Cao Huy Dĩnh

 

2. ĐÓN XUÂN TÂN MÃO

 

Vẫn biết xuân “đi” xuân lại về

Ngàn đời như thế chẳng sai hề

Tắc thông thời thế đường năm tháng

Thăng giáng đời người vận bánh xe

Mong được cao sang hưởng quế toả

Vươn mình tiếp cận bóng mai che

Bao lăm thành bại tuỳ phê phán

Bày tỏ tâm thành bạn hữu nghe.

                                             Tự dịch 17-12-2010

 

           CA NGỢI ANH HÙNG LAO ĐỘNG

                       HỒ QUANG CUA

 

Anh hùng lao động Hồ Quang Cua

Cần mẫn ngày đêm cả bốn mùa

Thấu hiểu nghề nông cần phấn đấu

Thấm nhuần lời Bác phải thi đua.

Thương nông dân quyết làm bằng được

Yêu đất nước thề chẳng chịu thua

Hạt gạo làm ra nhất thế giới

Anh hùng xứng đáng Hồ Quang Cua.

                                                     10-4-2021

 

 

 

                      CHIA SẺ KỶ NIỆM

                      (Ốm nằm viện suy ngẫm)

 

Nằm viện dăm hôm ngẫm sự đời

“Ba loài ba đấng” cũng tình người

Trắng đen rành rẽ không bàn cãi

Tốt xấu mông lung đáng khóc cười

Thua được dại khôn đầu biến động

Chê khen hay dở cứ đầy vơi

Nhận chân hiện thực cao minh nhất

Sống khoẻ, an vui mới tuyệt vời.

                                                            13-6 Kỷ Sửu

Huy Miên xướng:  TẶNG HỒ THU PHONG

 

Tình cờ kết bạn phải do duyên

Chẳng ngại vào thăm dẫu cách miền

Bởi chữ tầm chương tôn quý đạo

Vi câu trạch hữu trọng nhân hiền

Bọt bèo cũng mộng theo nghiên bút

Nhiều ít đều mang nợ sách đèn

Thu tiết đôi dòng xin tỏ dạ

Qua lần gặp gỡ ức trường miên.

                                            10-8-2020

 

Họa:   GIỮ ĐẸP CHỮ TƯƠNG ĐỒNG

 

Trên đời vạn sự bởi cơ duyên

Mọi lúc mọi nơi cả mọi miền

Đồng điệu tương lân hoà đạo hạnh

Đồng thanh tương ứng hợp tâm hiền

Tương phùng tương trợ thơm trang sách

Tương ngộ tương liên sáng ánh đèn

Tương đắc tương giao cho trọn vẹn

Tương đồng kỳ vọng đạt trường miên.

                                                           03-7-Tân Sửu

Bài xướng:   NỖI VẤN VƯƠNG

 

Quản trị thư mời góp phú chương

Cùng nhau xướng hoạ thể thơ Đường

Người xưa nhớ những từng chung sức

Bạn mới khen nhiều đã góp gương

Chủ nhiệm đồng tâm tình thắm đượm

Thành viên hợp chí nghĩa tươi hường

Vì chưng đại dịch đành xa cách

Bày tỏ dăm vần nỗi vấn vương.

                                           Huy Miên xướng 5-9-2021

 

Hoạ:   TẶNG HUY MIÊN – NỢ CÒN VƯƠNG

 

Từ nghề thuỷ sản đến văn chương

Cần mẫn say mê những chặng đường

Thừa kế gia huân nâng cán bút

Luyện rèn tư chất tạo vành gương

 Văn đàn tham dự vang danh tốt

Tác phẩm liên đăng tỏ sắc hường

Nôm Hán tinh thông mà nhủn nhặn

Đường xa “Trường Cửu” “nợ” còn vương.

                                                                    11-9-2021

 

Trường Cửu: Bút danh của Nguyễn Huy Miên

In theo lời tựa tập thơ “Đất quê tôi”

NXB Hội nhà văn – của Huy Miên.

Đã đóng khung kính – khổ lớn – treo ở phòng

khách Huy Miên  - Ảnh bìa sau

 

Bài xướng:   TÌNH THẦY TRÒ

 

Thời gian xa cách đã dài lâu

May mắn thầy trò gặp lại nhau

Khuôn mặt trò xưa còn nhớ mãi

Những lời thầy giảng chẳng quên đâu

Mái trường lớp học bao thương nhớ

Tình nghĩa thầy trò thắm đượm sâu

Đâu phải nghề đưa đò bạc bẻo

Người đi tình nghĩa trước như sau.

 

Thầy Nguyễn Xuân Hưng (1935)

Nhân dịp 20-11-2021.

 

Hoạ:              TRỌN TRƯỚC SAU

 

Cách trở xa thầy kể đã lâu

Duyên may kết nối được tin nhau

Gương thầy – thần tượng không sao lãng

Lời dạy – ân tình có lạt đâu

Sữa mẹ - công thầy tim khắc đậm

Quê nhà – nợ nước dạ ghi sâu

“Tôn sư trọng đạo” ngời truyền thống

Kính lễ ơn Người trọn trước sau.

                                                Nhân dịp  20-11-2021

 

Bài xướng:  TÌNH THƠ VẪN THẮM

 

Cuối tháng mười trời chuyển tiết đông

Lời thơ vẫn thắm ấm hương nồng

Tưởng rằng trăm mối đời vương nợ

Nên nỗi nhạt phai nguội lửa hồng

Gắp bạn tâm đầu trao xướng hoạ

Tìm ai tri kỷ ngỏ tương đồng

Cụng ly mĩ tửu tình giao kết

Góp khúc hoan ca bản nhạc hồng.

                              Đặng Kích - Bỉm Sơn

.

Hoạ:             KẾT GIAO

 

Tôi anh giao kết giữa ngày đông

Buổi mới mà sao vẫn mặn nồng

Chắc có tiền duyên thành vướng nợ

Nên chi hậu nghĩa đắc hài lòng

“Đồng thanh tương ứng” vui thi hoạ

“ Đồng nghiệp tương lân” hợp chữ đồng

Xin hẹn từ nay trao mối kết

Thi huynh thi hữu trí , tâm hồng.

                                                11-10- Kỷ Hợi

 

Bài xướng:        DANH CHÍNH

                         (V.Hội – T.Sinh)

 

Danh chính hội thơ ngọn gió lành

Vẻ vang thi hữu đất quê Thanh

Qua rồi thuyền nhỏ chông chênh sóng

Đã có cờ cao rực rỡ thành

Đường luật kiêu sa tươi dáng chị

Sân chơi uyên bác thoả tình anh

Áng thơ thêm rạng nâng hào khí

Văn hiến quê mình bát ngát xanh.

 

Hoạ:              TRƯỞNG THÀNH

      (Tặng hội thơ Đường luật – Thanh Hoá)

 

Thi hội mười năm đón gió lành

Góp phần làm rạng rỡ quê Thanh

Hội viên phát triển thơ đua nở

Thi tập gia tăng hội trưởng thành

Với hiện tại – chân tình sắc sảo

Về tương lai – đúng mực tinh anh

Chức năng văn học nâng tầm sáng

Đường luật quê mình mãi thắm xanh.

                                               5-9 Canh Tý – 21-10-2020

 

Xướng:   NỖI NIỀM KIỀU – KIM

                          (Tái hợp)

 

Gột tiết hồng nhan vũng nước lầy

Sao còn sắp đặt tái duyên đây

Thân hèn đã trải điều thương xót

Đức mỏng thôi màng chuyện đắm say

Những muốn trao mình nơi cửa phật

Toan nhờ gửi phận chốn am mây

Nể lòng người cũ tình se lại

Nào có hay chi cảnh mới này

    Nguyễn Huy Miên . tháng 11 – Tân Sửu

 

Hoạ:    NỖI NIỀM KIỀU - VÂN

            (Trao duyên)

 

Báo hiếu cam lòng dấn vũng lầy

Mối tình Kim Trọng tính sao đây

“Trâm trao” “ngọn cỏ” mong hương đượm

Tình phụ “chén thề”...”dứt máu say”

“Chắp nối” duyên em vui quạt ước

Chia ly phận chị luyến “tơ mây”

“Ngậm cười chín suối” “thân bồ liễu”

“Đứt gánh” xe tơ một LẠY này.

                                       Tháng 11 – Tân Sửu

 

VHTSinh gửi mời hoạ:

BUỒN VUI CUỘC THẾ

(Đường luật trường thiên)

 

48 câu vần anh

Ngày 2-5-2022

Không hoạ mà cảm nhận:

 

“Buồn vui cuốc thế” bản trường thiên

Rừng biển vào ra khắp mọi miền

Nước biếc non xanh vui cảnh dạo

Sử vàng tâm đỏ tận tình biên

Quê hương yêu dấu tôn danh thắng

Đất nước linh thiêng chọn đức hiền

Một cách nhìn đời chân chính đạo

Người thơ tỏ rõ chí trung kiên

                                            3-3-2022

 

ỨNG TÁC CUỘC GẶP MẶT LỚP 10A

(Khoá 1975-1978)

 

          10A “gặt mặt mùa thu”

Ân tình mời cả thầy cô vui cùng

          Phải đâu là chiuyện “qua sông”

Đò xưa bến cũa mặn nồng xiết bao.

                                                            8-10-2022

 

Lê Xuân Nhị - Bỉm Sơn xướng:

 

              TỰ BẠCH

 

Lòng luôn rộng mở đón tri âm

Ngặt nỗi trần gian rất dễ lầm

“Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt

Tri nhân tri diện bất tri tâm”

Mập mờ thiện ác chân thành giả

Lẫn lộn vàn thau thú hoá cầm

Bạn hữu mơ gì so Tử - Bá

Thầm mong Khắc Hiếu với Mai Lâm.

                                                     Bài hoạ 132

 

                    ĐÁP TỰ BẠCH (Bài 1)

 

Trên đời phỏng được mấy tri âm

Không tỉnh đương nhiên dễ bị lầm

Hãy cứ nhìn đời cho hoạt trí

Cũng như đối diện thật minh tâm

Ắt là thiện ác rành chân – giả

Tất yếu thấp cao rõ thú – cầm

Quả đúng Lưu – Dương là quá hiếm

Thiếu gì Khắc Hiếu với Mai Lâm.

 

Hoạ lại: TỰ BẠCH (Bài 2)

 

                          TỰ NGẪM

 

Trên đời phỏng được mấy tri âm

Không tỉnh đương nhiên dễ bị lầm

Nguyễn Trãi từng “ Bồng môn đảo lý”(1)+

Xương Linh hằng “Nhất phiến băng tâm”(2)

Bao dung thiện ác rành chân – giả

Độ lượng thấp cao rõ thú – cầm

Quả đúng Lưu Dương là khó kiếm

Lòng ngay ắt hữu hảo tùng lâm.

 

(1) Thơ Nguyễn Trãi: - Đón Nguyễn Mộng Tuân

(2) Thơ Vương Xương Linh tiễn Tân Tiện.

 

      TÍNH SỐ ĐỀ

 

Suốt ngày ông cắm cúi say mê

Tính tôán căn ke cái số đề

Khi được nở mày vui khoái trí

Phen thua nhăn mặt thảm ê chề

Trời cho trúng đít tiền qua trán

Thánh chứng ăn đầu bạc lặc lè

Có phúc có phần hay bạc phận

Làm gì còn chỗ chốn bờ đê!

                                    14-8 Quý Tỵ

 

THI ĐÀN VIỆT NAM

TIẾNG THƠ VỌNG MÃI

      (Khoán thủ)

 

Thi ca đất Việt mạch nguồn trong

Đàn nhạc thăng hoa nhịp điệu cùng

Việt lạc cánh chim không phút mỏi

Nam bằng khúc nhạc chẳng phai nồng

Tiếng lòng muôn thuở yêu trời biển

Thơ phú ngàn năm quý núi sông

“Vọng nguyệt” “Đăng Sơn” thiên bất hủ

Mãi còn tiếp nối mãi hanh thông.

                                                                 15-8-2017

      Câu hỏi của cháu

 

Ông thường kể cháu nghe

Chuyên Bu – ra – Ti – nô

Chú người gỗ trốn học

Biến thành con lừa tồ

Cháu hồn nhiên hỏi lại

Ông có học bao giờ

Mà sao ông giỏi thế?

Ông giải bày cặn kẻ

Ông học từ ngày xưa

Khi còn nhỏ như cháu

Ông miệt mài phấn đấu

Ông học đến trọn đời

Cháu mắt sáng tươi cười

Chào ông cháu đi học.

                                                      2013            

            ÔNG BẢO CHÁU

 

          Cháu mang búp bê ra vườn

Trời đang nổi gió mặt đường bụi bay

          Ông bảo cháu quay vào ngay

Búp bê mà ốm thì gay cháu à

          Tròn xoe mắt cháu hiểu ra

Búp bê ốm trở vào nhà cháu chơi.

                                                  2009

                  

                    BIỂN

(Lời tựa: Hạnh phúc lớn nhất là nhận thức

đúng hiện thực khách quan)

 

Biển xanh tươi đẹp trước bình minh

Cuồng nộ “biển đêm” sóng bất bình

Đáy thẳm, chôn vùi bao cốt nhục

Bờ gần, vất vưởng bấy vong linh

Khăn tang, bãi cát người thê thảm

Sóng gió, đại dương biển tuyệt tình

Trước biển suy tư lành với dữ

Đành rằng đo được biển – trời xanh.

 

Người ta thường ca ngợi biển: đẹp, giàu.

Đúng. Nhưng sự hung bạo của biển gây

đau thương tang tóc cho con người thì

ít ai nói đến. Các sự vật hiện tượng

khác cũng vậy.

104

                         Thơ gia đình Hồ Duy Diến –Dòng Đời

 

GỬI CỤ TÚ XƯƠNG

(Hoạ bài “Than đạo học”)

 

Đời cụ nay tôi hiểu lắm rồi

Cuộc đời mà đến thế thì thôi

Tám khoa thi cử dồn chân bước

Hai bữa khoai rau xếp gối ngồi

Trào phúng đấu tranh luôn sắc bút

Trữ tình lãng mạn mãi thơm xôi(1)

Quả là “Chín suối xương không nát”(Nguyễn Khuyến)

Thơ cụ soi bừng tâm trí tôi.

 

In trong “ Lời ru non sông”NXB Lao động

(1) Thường nhiều người tưởng Tú Xương chỉ là

nhà thơ trào phúng. Thực ra – theo cụ Nguyễn Tuân:

Thơ trữ tình lãng mạn của Tú Xương cũng tuyệt vời.

Hai mãng thơ như đôi chân để Tú Xương đứng vững

 với thời gian.

 

             CẢM NHẬN

 

          Nhà thơ sao anh chẳng là

Lại là thầy giáo trường nhà vợ yêu

          Thơ anh tôi đọc thấy điều

Giản đơn gần gủi rất yêu cuộc đời

          Học anh tôi làm thơ chơi

Nhưng đâu theo kịp bởi trời không ban.

                                                                                 13-4-2018

                                                                Trương Trọng Chơn

 

ĐỌC “ TÂM SỰ TUỔI CAO” của Lê Xuân Nhị

Bỉm Sơn – CẢM NHẬN

 

          - Tập thơ đáng học tập

          - Cảm nhận về phần lục bát

          Những dòng lục bát ru êm

“ Vấn vương” gởi nắng cho em “nửa đời”

          “Tình hạ” “Chỉ là mơ thôi”

“Hạnh phuc” “Thu cảm” “Mẹ ơi” “Sang mùa”

          “Nhớ mùa hoa cải ngày xưa”

“Trước đền Kiếp Bạc” “Tình thơ” “Thơ tình”

          “...Em về đất Tổ cùng anh”

“Đợi em” “Chiếc lá” “Ăn năn” “Thơ người”

          Chắt chiu chọn lọc ý lời

Đẹp “Tâm sự tuổi sáu mươi” với đời.

 

          - Cảm nhận về phần luật Dường

 

Đường thơ “Tự bạch”

“Nhớ”  “Bâng khuâng”

“Kỷ niệm trường xưa” “Vọng cố nhân”

“Cảm xúc mùa thu” “Niềm xúc cảm”

“Nhân du ba dội” đẹp vô ngần

                                          5-4 Nhâm dần (5-5-2022)

CHÉP LẠI NHẬT KÝ

Đi bồi dưỡng thi văn miền Bắc

     Tại Nam Đàn II

 

18/3/1968

Chuẩn bị

 

          Sáng nay vừa nhận tin mừng

Tin vui trường lớp tưng bừng vui chung

          Mà ta tràn ngập nỗi lòng

Ngẩn ngơ trăm mối lo mừng – ngẩn ngơ

          Cháy lòng đôi nhịp mừng lo

Bâng khuâng không rõ mừng lo, lo mừng

          Bồi hồi trước những tình thương

Ngẩm sâu gia cảnh lại càng xót xa

          Ơn tình đồng chí mặn mà

Quyên tiền, góp gạo cho ta lên đường

          Đồng chí ơi, vạn tình thương

Lòng tôi cảm kích ngẫm ơn muôn vàn!.

 

19/3

Rời Quỳnh Hoan

 

          Hai giờ tạm biệt Quỳnh Hoan

Cảnh – người sao thấy tươi hơn mọi ngày

          Xa rồi Lèn quát chiều nay

Chiến hào cao những cánh tay vẫy chào.

 

Quỳnh Ngọc

 

          Đồng chiêm sóng lúa vờn nhau

Qua đồng Quỳnh Ngọc nhớ sao những ngày.

 

Quỳnh Bá

 

          Đây rồi Quỳnh Bá vui thay

Gió reo mát rượi những ngày nhớ sao.

 

Quỳnh Hồng

 

          Hồng Sơn ơi! Đẹp biết bao

Lúa reo năm tấn gọi chào ta đi.

 

Cầu Zát

 

          Lòng sao bỗng nặng như chì

Dững dưng lằng lặng lầm lỳ bước chân

          Cầu Zát ơi đã bao lần

Sông trào dâng nước chảy tràn đường đi

          Sóng kia ngươi nghĩ những gì

Lòng ta dâng sóng gió về lạnh run

          Thôi đi cho mát tâm hồn

Càng nung ý chí hãy còn ngày mai.

 

Hoặc

 

          Cầu Zát ơi nghĩ suy gì

Đường vui phố rộn ta đi kẻo chiều

          Mỹ kia tàn phá bao nhiêu

Thì đời ta vẫn quý yêu tháng ngày.

 

 

Quỳnh Giang

 

          Chuyện vui nở rộ đường dài

Đường ray thẳng tắp đây rồi Quỳnh Giang.

 

Cẩm Bào

 

          Vui nghe tiếng búa rộn ràng

Lòng anh chiến sỹ cầu đường chiều nay

          Dựng cầu nhịp hát hăng say

Dáng anh lồng lộng búa quai nhịp nhàng

          Đẹp thay cô gái mở đường

Ca vui tay lựa phím đàn vui ca.

 

Ga Yên Lý

 

          Lặng nhìn bãi nát nhà ga

Bỗng vui có tiếng goòng ra rúc còi

          Mỹ kia tàn phá tơi bời

Ga ta vẫn sống, tiếng còi vẫn ngân.

 

Diễn Hồng

 

          Chiều buông đêm xuống chợ Dàn

Ngồi ăn cơm nắm bên đàng nghỉ chân

          Từ tổng hợp “Ba đảm đang”

Có ô tô chẳng chở hàng vào xuôi

          Được đi chao sướng sướng ôi!

Xe đi vun vút lòng vui gió lồng.

 

Diễn Xuân

 

          Trong đêm qua xã Diễn Hồng

Diễn Xuân xe đậu mà lòng tiếc ngơ.

 

Diễn Quảng

 

          Bước đi trong bóng đêm mờ

Cầu phao Diễn Quảng Mỹ vừa ném bom

          Có người chết lẫn bị thương

Cửa nhà đổ nát đau thương xé lòng

          Qua cầu còn hãy ngoái trông

Người đi nườm nượp dòng sông dịu hiền.

 

Đường 7

 

          Đường só 7 rực ánh đèn

Xe ta rầm rập đi tiền tuyến xa

          Bên đường vui rộn lời ca

Đoàn quân đánh Mỹ đang giờ nghỉ chân.

 

 

Diễn Tháp (tối 19/3)

 

          Tìm vào tổng hợp Diễn Xuân

Bún khô buổi tối chỉ ăn gọi là

          Đường lên chợ Bông còn xa

Lần vào quán trọ kiếm nhà nghỉ ngơi.

 

20/3- Diễn Tháp

 

          Trăng mờ đêm lạnh sương rơi

Kính chào Diễn Tháp xa rồi đêm nay

          Hòn Lèn ngạo nghễ chân mây

Đường ta mở lối hàng cây vươn dài.

 

Sơn Thành

 

Sơn Thành chợ Bông đây rồi

Phương đông chưa thấy ánh mai đỏ hừng

Lại vô xóm nhỏ tạm dừng

Sáng ra cơm nước lên đường tiếp đi.

 

          Kia nhà thờ đá uy nghi

Hỏi sang Phương Tích đường đi Ú Trù

          Núi non mờ ảo sương mù

Đường đi trăm ngã cơ hồ đèo truông

          Qua bao bãi vắng rừng hoang

Qua bao xóm núi nông trang tưng bừng.

         

 

             Truông Băng

 

          Đến đây khe suối núi rừng

Gò cao bãi cát một vùng bao la

          Truông Băng dốc ngược mái nhà

Non trưa đến dốc vượt qua xế chiều

          Đường cong rắn lượn ngoằn ngoèo

Rực trời nắng đốt ta trèo Truông Băng

          Truông Băng dô hụi băng truông

Mồ hôi đẫm áo chân chồn mắt hoa.

 

Nam Thanh

 

          Tình quê bát ngát đậm đà

Bà con hợp tác tăng gia bên đường

          Chùa Nam Thanh vút hàng dương

Cổng chùa còn hãy nguyên sương lân rồng

          Gió reo vi vút hàng thông

Tỉnh hơi khách lạ đàn ong bay vù

          Vườn cây reo gió vi vu

 

Chùm hoa mít trắng hương đưa ngát lừng

          Gốc thông ghế đá hai hàng

Bóng râm khách lạ mơ màng ngắm hoa

          Phơ phơ tóc bạc cụ già

Mời vô uống nước, đậm đà chè xanh

          Chữ hồng “THƯ VIỆN NAM THANH”

Chùa xưa nay đã trở thành “Viện thư”.

 

Thị trấn Nam Đàn

 

          Nắng soi loáng mái chèo đưa

Nắng tươi bát ngát đôi bờ sông lam

          Reo vui thị trấn Nam Đàn

Người xe tấp nập rộn ràng ngược xuôi

          Ven đê khoai lạc xanh ngời

Núi dài sông rộng đất trời bao la.

 

Đò Vạn Rú

 

          Qua Nam Đàn mới reo vui

Đây đò Vạn Rú đầy rồi “Sông xanh”

          Trãi qua ngày rưỡi bộ hành

Chín mươi cây số Nam Hoành đến đây

          “Bạn đường ai tỉnh ai say?” (Tố Hữu)

Qua đò lòng nhẹ như bay lưng trời

          Hỡi người đồng chí ta ơi

Có hay vất vả xa xôi hành trình

          Hãy đem tất cả nhiệt tình

Say sưa học tập quên mình - say sưa.

                                                                       124 câu

            

               CẢM NGHĨ VỀ 990 NĂM

               DANH XƯNG XỨ THANH

 

Danh xưng Thanh Hoá ngót ngàn năm

Trãi Lý – Trần – Lê thật vẻ vang

Tống khứ Xiêm quân trên cửa Hới

Xua tan Minh tặc giữa Đông Quan

Đánh Tây, đuổi Nhật cao minh trí

Chống Mỹ ngăn Tàu vững quyết tâm

Đổi mới đi lên cùng đất nước

Xây nên “kiểu mẫu” dưới trời Nam.

                                   Mồng 5 tháng giêng Kỷ Hợi

Phỏng dịch bài chữ Hán

 “Thanh Hoá danh xưng cảm tác” – trang 113

 

         ĐỌC “ GIỮ LỐI XƯA” của Huy Miên

                   CÓ MỘT CHỮ TÌNH

 

“ Giữ lối xưa” đượm chữ tình

Tâm tài hoà quện lung linh sắc màu

Tình phụ - mẫu ân đức cao

Tình cha con lại dạt dào tin yêu

Vợ chồng nói ít thắm nhiều

Hướng về các cháu đủ điều chăm lo.

                                                    Trung thu Quý Mão

 

 

 

     MỪNG THẦY NGUYỄN XUÂN HƯNG

     ĐẠI THỌ TUỔI 90

 

Đại thọ mừng thầy tuổi chín mươi

Tự hào: Công sức góp xây đời

Học trò thành đạt,  ân tình nặng

Con cháu hiển vinh, phúc lộc dày

Bạn hữu xa gần cùng quý mến

Họ hàng thân thích thảy hoà vui

Cây cao bóng cả xanh màu mới

Mong đạt hơn trăm hưởng thọ trời.

                                         Đón xuân Giáp Thìn 2024        

 

              TÂM SỰ GIÁP THÌN

 

Ất Hợi năm nay lên chín mươi

Nhờ trời cây lá còn xanh tươi

Cảm ơn những tấm lòng mừng thọ!

Mong sống khoẻ vui với mọi người.

                                                  Nguyễn Xuân Hưng

(Thầy sinh ngày 28-12-1935 âm lịch - Ất Hợi).

 

HOẠ BÀI “Tâm sự giáp thìn”

Của thầy giáo Nguyễn Xuân Hưng

 

              CHỮ NGƯỜI VIẾT HOA(1)

Bài 1:

 

Đại thọ mừng thầy tuổi chín mươi

Theo dòng đổi mới mãi xanh tươi

Trời ban – chân quý cao niên thọ

Trên thọ, đức tâm: đẹp chữ NGƯỜI.

      (1) Theo ý của Mác – xim – Gooc – ky.

 

Bài 2:

 

               TUỔI THỌ VÀ SỰ NGHIỆP

 

Mừng thầy thêm chục đạt mười mươi

Đổi mới cây cao vẫn tốt tươi

Chân quý trời ban cao tuổi hạc

Cao sao bằng sự nghiệp trồng người.

                                                      13-12- Quý Mão

 

 

 

VHTS xướng:    NHỚ MỘT NỬA

 

Quên nên ham nhớ nhớ không tròn

Quên tuổi thiếu thời mạng suýt tom

Quên lúc thủng quần đi lủng lẳng

Quên khi lép bụng gánh lom khom

Quên văn bút trả lờ mờ ngõ

Quên võ gân già lúng túng non

Quên chuyện buồn vui trong thế sự

Quên bao mơ ước thuở xuân khòm

                                             Đón xuân Giáp Thìn

 

Hoạ:           NHỚ CHÚ ÚT

 

Nhớ quên quên nhớ khó mà tròn

Nhớ thuở khoai rau gầy tóp tom

Nhớ lúc lên rừng chân vững bước

Nhớ thời mất ruộng lưng không khom

Nhớ ngày đi học xin tương tế

Nhớ bữa con thi được gưởi dòm

Nhớ hết được đâu, đời vạn mối

Nhớ nhòn đọng lại giấc mơ khòm.

                                                 19-12- Quỹ Mão

 

                 THƠ KHÔNG BÁN

 

Sao phải đem thơ bán hỡi trời

Tìm người tâm đắc thiếu gì nơi

Tỏ bày ý nguyện hân hoan đón

Chia sẻ tâm tư phấn khởi mời

“Cơm áo không đùa...” nên gắng sức

“ Vịn thơ đứng dây...” khỏi tàn hơi

Chăm lo gia quyến đường muôn nẻo

Thơ để tri âm đẹp cuộc đời.

   

 “Văn chương Việt Nam” quyển 19 – trang 55

 

                         THÚ QUÊ

 

Sổ lồng con sáo đã bay xa

Nghe khướu vui khoe lúc thưởng trà

Chắp chới bồ câu chào nắng sớm

Là đà mòng két đón chiều tà

Kêu ran chim chích chao lui tới

Thấp thoáng chào mào đảo lại qua

Ngắm vịt lặn hồ xao sóng nước

Thăm cò ấp trứng sát hiên nhà.

 

“Văn chương Việt Nam” quyển 20 – trang 56

 

            NGHĨ VỀ NHẬT KÝ TRONG TÙ

               

“Nhật ký trong tù” bi tráng ca

Tâm hồn, ý chí vị “cha già”

Tình yêu nhân loại ngời chân thiện

 Hiện thực Trung Hoa rõ chính tà

“Tự hoạ chân dung” trong sáng ngọc

 “Trữ tình – chất thép” thắm tươi hoa

“Ngọn đèn toả rạng” cho con cháu

Bảo vật muôn đời của quốc gia.

       

        Dựa theo giáo trình về “ Nhật ký trong tù” và ý thơ

        Hoàng Trung Thông.

     Ngày 01-10-2012 Thủ tướng chính phủ ra quyết định

     công nhận “ Nhật ký trong tù” là bảo vật quốc gia.

 

                        ĐI NHẬP HỌC

                    (Tặng 2 cháu Phúc – Lộc)

 

Ông đi nhập học ngày xưa

Năm ngày cuốc bộ nắng mưa dãi dầu

Trường Vinh đóng tận rừng sâu

Tránh bom đạn Mỹ quản nào gian nan

Rồi theo dòng chảy thời gian

Mẹ cháu nhập học mở trang sách đời

Xe ca đưa đến tận nơi

Mọi điều vượt hẳn cái thời của ông.

Trải qua tháng đợi ngày trông

Cháu Phúc nhập học thoả lòng mẹ cha

Vui chung nội, ngoại ông bà

Thuê xe dịch vụ cả nhà cùng đi.

                    *   *

                      *

Thoi đưa lại đến mùa thi

Lộc đậu đại học còn chi vui bằng

Ô tô nhà sẵn, đàng hoàng

Lộc đi nhập học rộn ràng toàn gia.

 

Diễn giải: 12 câu trên làm năm 2020 – Phúc đi nhập

học. 4 câu tiếp nối làm năm 2025 – Lộc đi nhập học.

 

         Tấm lòng

 

Ra trường năm mươi năm

Các em cùng thành đạt,

Nay trở về gặp mặt

Và tri ân thầy cô.

 

Biết Hội Cựu giáo chức

Của các thầy đông vui.

Hội “Sau thời cầm phấn”

Vẫn chăm lo cho đời.

 

Biết các thầy xuất bản

Sách “Chung một mái trường”

Chan chứa tình yêu thương

Các em rất cảm động

 

Rồi bàn nhau tình nguyện

Tài trợ Hội các thầy,

Coi là điều hân hạnh

Truyền lửa cho tương lai.

 

Cây tươi xanh ngày trước

Đơm quả ngọt hôm nay

Chữ “Tôn sư trọng đạo”

Đẹp tấm lòng không phai!

                                                        02/9/2025

 

CA NGỢI CỰU CHIẾN BINH

DOANH NHÂN TRẦN XUÂN LÂM

 

Có hạt giống nẩy mầm tươi lá

Trên đất cằn sỏi đá, diệu kỳ

Xuất thân trong cảnh hàn vi

Ông Lâm tạo dựng bước đi tuyệt vời.

Nhỏ thất học một thời lam lũ

Tuổi trưởng thành hội đủ lực – tâm.

Lên đường ra trận vào Nam

Xông pha chiến đấu đạn bom chẳng sờn.

Sau cuộc chiến là thương binh nhẹ

Ông trở về đất mẹ làm ăn

Buổi đầu lập nghiệp gian nan

Biết bao vất vả khó khăn dập dồn

Lập doanh nghiệp khi còn trứng nước

Vượt đói nghèo từng bước đi lên

Lính cụ Hồ ý chí bền

Lo cho đồng đội mọi miền gần xa

Cựu chiến binh “một nhà” đùm bọc

Khẳng định cao tầm vóc doanh nhân

Chữ tầm kết với chữ tâm

Bỉm Sơn có Trịnh Xuân Lâm Đức - Tài!

 

Có 2 học sinh từ nơi khác chuyển về do

dính vào ma tuý:

 Một ở Đắc Lắc: Em Tuấn Anh

Một ở Hà Nội: Em Đức Hải

Ở môi trường mới: Trung tâm GDTX

Vĩnh Lộc. Các em cai nghiện thành công.

Bài thơ “Sơ tán” dựa vào sự việc này

 

            SƠ TÁN

 

Nhớ xưa bom đạn một thời

Cha phải sơ tán về nơi bản làng

Giặc tan, trở lại yên hàn

Xây dựng thành phố đàng hoàng hôm nay

Sinh con khôn lớn tháng ngày

Ai đem “chết trắng” về đây rập rình

Mong con được sống yên lành

Lại cho “sơ tán” như mình ngày xưa

Mới hay kết quả bất ngờ

Đẩy lùi ma tuý con nhờ quê hương

 

In trong tạp chí Công đoàn Thanh Hoá,

số 50 tháng 10-2001, trang 56.

 

Tiếp theo phần I: THƠ NHỚ LẠI

 

1- Chuẩn bị đi tập huấn thi học sinh

giỏi miền Bắc

 

Lên đường tập huấn để dự thi

Tăng đưa áo ấm bảo mang đi

Bạn lo cho ta từng cơn rét

Từ khi nắng rực cả bốn bề.

Tăng : Bạn học cùng nhà trọ - người Quỳnh Diễn

 

2. Bữa ăn ngày trọ học

 

Nước cơm với muối chấm rau khoai

Bền gan phấn đấu đặng tháng ngày

Ăn thế không tiên thì cũng phật

Nhìn nhau bấm bụng đợi ngày mai.

 

3. Thăm bạn bị thương vì bom Mỹ

do máy bay oanh tạc

 

Ngoài trời mưa rả rích

Mây đen kịt gió gào

Khóm cây xanh lả lướt

Trong gió đập lao xao

Anh nhìn em nghẹn nói

Nước mắt cứ ứ trào

Căm thù quân giặc Mỹ

Gây bao nỗi thương đau

(Chép theo trí nhớ của bạn bị thương).

 

Tiếp theo phần II: PHẦN XƯỚNG HOẠ

 

Huy Miên xướng: CÂY BƯỞI TRƯỚC SÂN

             ( Tặng thầy Hồ Duy Diến)

 

Thầy tôi trồng bưởi mát sân nhà

Quả chín đang còn lứa mới ra

Hoa trắng nõn nà bầy bướm lượn

Nhuỵ vàng óng ả lũ ong sa

Ngạt ngào vị ngọt khi ăn trái

Thoang thoảng mùi thơm lúc thưởng trà

Thấm thoát xuân qua hè sẽ đến

Trung thu hái xuống lễn ông bà.

                                  Kỷ Hợi niên- 2019

                Nguyên bảm chữ nôm trang 41

 

Duy Diến hoạ:  CÂY BƯỞI NHÀ TÔI

 

Cây bưởi trước sân đẹp cảnh nhà

Hoàng liên hoa trái kế nhau ra

Bóng râm toả đón anh em tới

Hương ngát lan đưa ong bướm sa

Vị ngọt chân tình khi hái quả

Mùi thơm thiện ý lúc pha trà

Bốn mùa thu hoạch cho con cháu

Trọn vẹn tình ông với nghĩa bà.

       Nguyên bản chữ nôm trang 136

    Đây là 2 bản phiên âm quốc ngữ. Nguyên cả 2

bản viết bằng chữ nôm (bài xướng phóng to,

đóng khung kính treo ở phòng khách). Ảnh trang bìa cuối

 

  PHẦN VI:  THƠ CHỮ HÁN

ĐƯỜNG LUẬT &XƯỚNG HỌA

 

NGHINH TÂN MÃO XUÂN

Nguyên tác:

迎辛卯春

辛卯新春將到來

欢然萬物对春諧

和平幸福漣天角

親愛结团徧海街

節到和鳴鷄燕雀

春來合笑菊桃梅

歌声處處迎春曉

恭祝大家福夀開

庚寅孟冬

孫适高輝潁

89年壽66党歲

同喜太原

敬寄:詩友胡缅

請和

 

Phiên âm

Nghinh Tân Mão xuân

Tân mão tân xuân tương đáo lai

Hoan nhiên vạn vật đối như hài

Hòa bình hạnh phúc liên thiên giác

Thân ái kết đoàn biến hải nhai

Tiết đáo hòa minh kê yến tước

Xuân lai hợp tiếu cúc đào mai

Ca thanh xứ xứ nghinh xuân hiểu

Cung chúc đại gia phúc thọ khai

Canh Dần mạnh đông .

                        

                         Tôn quát –Cao Huy Dĩnh

họa: 和

迎辛卯春

知道春殘春再來

以經萬代對如諧

升沉世事車輪軸

否泰人間歲月街

百力尚高應樹桂

壹心接近老枝梅

少多人世能評品

唯我真誠心寸開

            庚寅年十一月初十日

Họa

Nghênh Tân mão xuân

Tri đạo xuân tàn xuân tái lai

Dĩ kinh vạn vật đối như hài

Thăng trầm thế sự xa luân trục

Bỉ thái nhân gian tuế nguyệt nhai

Bách lực thượng cao ưng thụ quế

Nhất tâm tiếp cận lão chi mai

Thiểu đa nhân thế năng bình phẩm

Duy ngã chân thành tâm thốn khai.

                           

Xướng thi: TÂN MÃO CẢM TÁC

 

            唱詩

辛卯感作

八十九年為大壽

鬢蕭齒折智惟明

詩坛常到交流伴

樂会还之唱和經

四快衰微成四苦

弎尊昇進达三精

不知壽歲存多少

乐世欢然兴百靈

辛卯新春

孙适-高輝潁

敬寄:忘年友:胡惟缅

請和

Bài xướng:

Tân Mão cảm tác

Bát thập cửu niên vi đại thọ

Mấn tiêu xỉ chiết trí quang minh

Thi đàn thường đáo giao lưu bạn

Nhạc hội hoàn chi xướng họa kinh

Tứ khoái suy vi thành tứ khổ

Tam tôn thăng tiến đạt tam tinh

Bất tri thọ tuế tồn đa thiểu

Lạc thế hoan nhiên hưng bách linh.

                                Cao Huy Dĩnh

Bài họa:

Tân mão xuân cảm tác

Lục thập lục kim thời vị thọ

Lực hoàn cường tráng trí duy minh

Chuyên thâm địa lý hòa phong thủy

Thường khán tử vi cộng dịch kinh

Trạch nhật hiếu tang ,cải táng chuẩn

Định thời hỉ sự tân gia tinh

Khách lai viễn cận đô chu đáo

Lạc giả hoan nhiên phụng bách linh.

                                          

   CUNG CHÚC CAO TÔN ĐẠI THỌ

 

          恭祝高尊大壽

恭祝高尊為大壽

力還康健智心明

用工作事成規範

斳敏修詩達典經

親爱同胞無限感

文章詞句貴乎精

結交詩友忘年廣

鶴命歡然興百靈.

130

               Thơ gia đình Hồ Duy Diến –Dòng Đời

 

CUNG CHÚC CAO TÔN ĐẠI THỌ

Cung chúc Cao tôn vi đại thọ

lực hoàn khang kiện trí tâm minh

Dụng công tác sự thành quy phạm

Cần mẫn tu thi đạt điển kinh

Thân ái đồng bào vô hạn cảm

Văn chương từ cú quý hồ tinh

Kết giao thi hữu vong niên quảng

Hạc mệnh hoan nhiên hưng bách linh.

                                        

 NAM KHA MỘNG

Nguyên  tác:

南柯夢

南柯槐樹夢中央,

富貴于枌想永祥.

公主結婚成貴婿

槐安任職謝尊王

賢妻死了哀狂腹

險陣敗亡痛段腸

“世上功名都是夢”(1)

                     南柯夢比象黃梁

 

Phiên âm: Nam kha mộng

Nam kha hòe thụ mộng trung ương

Phú quý Vu Phần tưởng vĩnh tường

Công chúa kết hôn thành quý tế

Hòe An nhậm chức tạ tôn vương

Hiền thê tử liễu, ai cuồng phúc

Hiểm trận bại vong, thống đoạn trường

“ Thế thượng công danh đô thị mộng”(1)

Nam Kha mộng thử tượng Hoàng Lương.

Dịch nghĩa:

        GIẤC MỘNG NAM KHA

Trong giấc mộng ở Cành nam  cây Hòe

Thuần Vu Phần tưởng được phú quý lâu bền.

Kết hôn với công chúa thành phò mã

Nhậm chức quan ở Hòe An, rất biết ơn nhà vua

(Thế rồi). vợ chết đau đớn điên cuồng

Lại thua trận khổ sở như đứt ruột

(Mới hiểu) Công danh ở đời chỉ là một giấc mộng

Mộng Nam kha cũng giống mộng Hoàng Lương.

 

Dịch thơ:

   Giấc mộng Nam kha

Ngẫm trong hòe mộng Nam kha

Vu Phần phú quý hóa ra đoạn trường

Duyên cùng công chúa uyên ương

Hòe An nhận chức tạ ơn bệ rồng

Vợ hiền mất xiết đau lòng

Tướng quân thất trận tột cùng xót xa

Công danh là mộng tỉnh ra

Hoàng Lương và giấc Nam Kha tương đồng.

                                                22/ 1/ 2022

 

 (1) Thơ của Lê Thánh Tông , đề ở động Hồ Công.

* Tích Truyện:Trong giấc mộng đêm hè, chàng Vu Phần thế nào lạc bước đến nước Hoè An. Bỗng nhiên anh được nhà vua xứ này sủng ái hết mức, đem gả cho cô công chúa xinh đẹp bậc nhất. Ngay sau đó, Vu Phần lại được phong làm Nam Kha Thái thú. Đang là một kẻ nghèo khó, chàng ta ngây ngất với phận may từ trên trời rơi xuống. Suốt ngày Vu Phần đi ra đi vào, hết ngắm nàng công chúa lộng lẫy đến lang thang chiêm ngưỡng thành quách bề thế, kẻ ra người vào tấp nập trong kinh thành. Nhưng sự đời lại không xuôi chèo mát mái cho cặp uyên ương. Chàng và nàng đang hưởng vinh hoa phú quý thì có giặc, vua bèn sai Thuần Vu Phần cầm quân ra trận. Khốn nỗi, chàng ta đâu có giỏi việc binh đao, đánh mấy trận quân sĩ đều thua to, bỏ chạy tán loạn. Thêm vào đó, công chúa lại bị chết, quả là “hoạ vô đơn chí” (điều rủi ro, bất hạnh không chỉ có một). Đất nước bị xâm chiếm, con gái yêu bị chết, nhà vua đâm ra ngờ vực Vu Phần mà đuổi chàng về nước. Sự tình quả là đau xót!

Đang mơ tới lúc gặp tai ương thì Thuần Vu Phần giật mình tỉnh giấc. Anh bỗng thấy mình đang nằm dưới gốc cây hoè và cách đó không xa về phía nam là một tổ kiến bự với hàng vạn chú kiến vàng đang chạy tứ tung. Vu Phần toát mồ hôi và chép miệng: “Than ôi! Giữa mộng mơ và đời thực sao mà cách xa đến thế!”.

          Câu chuyện đầy tính ngụ ngôn kia được người đời sau lưu truyền để hàm chỉ một sự kiện nào đó, nghe có vẻ cao siêu, đẹp đẽ nhưng thực chất là không thực tế, viển vông... Từ tích này mà trong dân gian có thành ngữ giấc mộng Nam Kha hay giấc mộng hoè, giấc hoè với nghĩa là “giấc mơ đẹp, nhưng chỉ là giấc mơ hão huyền, không có thực”:

Giấc Nam Kha khéo bất bình

Bừng con mắt dậy thấy mình tay không (Truyện Kiều) Tác giả:              

                                                                                     4/ 1/ 2026

                                                              Hồ Duy Diến

                                  Trình bày chữ Hán Nôm: Nguyễn Huy Miên

ÔNG VÀ CHÁU (công bằng)

 

 

Các cháu tranh nhau ông

Ông bế cả hai đứa

Đi tùng dinh mấy vòng

Chúng cười như nắc nẻ.

             *    *

               *

Tay mỏi cũng như không

  Báo người cao tuổi số 189 (2341) ngày 27/11/2018

 

Bản quốc ngữ trang 125

 

        HỒ BÁ BÁ

Nguyên tác chữ Hán

胡伯伯

胡伯人生好至圓

深情碩德海和天

憂民愛國恒忘我

進入它堅格命船0

(和胡志明的[元宵]詩品)

 

Phiên âm: HỒ BÁ BÁ

Hồ Bá nhân sinh hảo chí viên

Thâm tình thạc đức hải hòa thiên

Ưu dân ái quốc hằng vong ngã

Tiến nhập đà kiên cách mạng thuyền.

( Họa Hồ Chí Minh đích[Nguyên tiêu] thi phẩm)

Dịch Nghĩa: Bác Hồ

Cuộc đời của bác thật vẹn tròn

Tình sâu đức lớn như trời biển

Chỉ biết quên mình vì yêu nước thương dân

Vững lái đưa con thuyền cách mạng tiến lên.

 

Cảm dịch thơ:  Bác Hồ

Muôn phần tròn vẹn bác Hồ ơi

Đức lớn tình sâu sánh biển trời

Yêu nước thương nòi quên sức lực

Đưa thuyền Cách mạng vũng vàng bơi.

            ( Nguyễn Huy Miên dịch )

Bài xướng:    Xuân mới

Xuân mới đã sang rạng đất trời

Trời mây sáng đẹp nắng hơi hơi

Hơi lay nắng nhẹ cây rung ngọn

Ngọn khẽ đang đưa giáng nghịch chơi

Chơi chốn phật tiên du khách nguyệt

Nguyệt cùng non nước dựng xây đời

Đời vui Xuân mới vui thêm tuổi

Tuổi thọ cao dần đại thụ tươi.

                                          Cao Huy Dĩnh

Bài họa:

        Mất núi đá thêm sân gôn

(thể liên hoàn hướng tâm)

 

Về quê núi mất phải kêu trời

Trời chứng ngàn năm núi bốc hơi

Hơi bay đá núi thành đường sá

Sá kể sân gôn phục vụ chơi

Chơi để cho bao người thất nghiệp

Nghiệp nông muôn thưở phải đi đời

Đời muốn phục hồi lo làm lại

Lại làm cho cuộc sống xanh tươi.                                  

 

 

TẶNG PHONG NHÂN HỘI

                    Nguyên tác chữ Hán

贈風人會

風人詩會祝長年

因為心專重德賢

賦對用功成准范

佛臺孫敬得相聯

継乘傳統修真教

開啟將來習紙田

世道光輝同步入

未完美好到明天 .

己亥年八月弍十五日

 

 

Phiên âm: Tặng Phong Nhân hội

Phong Nhân thi hội chúc trường niên

Nhân vị tâm chuyên trọng đức hiền

Phú đối dụng công thành chuẩn phạm

Phật đài tôn kính đắc tương liên

Kế thừa truyền thống tu chân giáo

Khai khải tương lai tập chỉ điền

Thế đạo quang huy đồng bộ nhập

Vị hoàn mỹ hảo đáo minh thiên.

             Kỉ Hợi niên bát nguyệt chấp ngũ nhật

              (Ngày 25/ 8/ năm Kỉ Hợi 2019)

 

 

    THANH HÓA DANH XƯNG CẢM TÁC

清化名稱感作

清化名稱的處清

千年人傑地灵賡,

占軍送去沉江口

明賊消亡失守城 .

逐日抗西高勇氣

制中打美偉威名

更新進入同民族

樣本興修遂伯情 .

壬寅正月弍十七日

作者 :胡惟缅

 

 THANH HÓA DANH XƯNG CẢM TÁC

 ( Họa thơ  “Đáo xứ Thanh” của Ngọc Loan)

Thanh hóa danh xưng đích xứ thanh

Thiên niên nhân kiệt địa linh canh

Chiêm quân tống khứ trầm giang khẩu

Minh tặc tiêu vong thất thủ thành

Trục Nhật kháng Tây cao dũng khí

Chế Trung đả Mỹ vĩ uy danh

Canh tân tiến nhập đồng dân tộc

Dạng bản hưng tu toại bá tình.

          Nhâm Dần chính nguyệt nhị thập nhất nhật – 2022

 

Bài xướng:  Đáo xứ Thanh

  Nguyên tác chữ Hán

到處清

壹日春台到處清

銜𧏵昔點固金城

𠻅衝炸雨山玄活

砲艦魚雷海笛賡

帝氣藍山存永世

富田厚祿鑿雄名

天街地角皆相遇

盛景真心滿至情0

作者 :阮玉鵉

 

ĐÁO XỨ THANH

Nhất nhật Xuân đài đáo xứ Thanh

Hàm Rồng tích điểm cố kim thành

Bom xung tạc vũ sơn huyền hoạt

Bác hạm ngư lôi hải địch canh

Đế khí Lam Sơn tồn vĩnh thế

Phú Điền Hậu Lộc tạc hùng danh

Thiên nhai địa giác giai tương ngộ

Thịnh cảnh chân tâm mãn chí tình.

  Tác giả Nguyễn Ngọc Loan- Hải Phòng.

             Thơ gia đình Hồ Duy Diến –Dòng Đời

 

Nhân chủ tịch nước Trương Tấn Sang hội kiến với chủ tịch Tập Cận Bình: Thống nhất các vấn đề cơ bản về quan hệ Việt Trung, tôi làm bài tứ tuyệt chữ Hán họa bài Từ “ Vị nữ dân binh đề chiếu” của Mao chủ tịch:

 

HI VỌNG HÒA TÍN TÂM

希望和信心

中越兵軍要砲槍

安寧疆域練操場

不同南海亦東海

了解和談不武裝0

癸巳年七月初二日

 

Bài họa:

      Hy vọng hòa tín tâm

Trung- Việt binh quân yếu pháo thương

An ninh cương vực luyện thao trường

Bất đồng Nam Hải diệc Đông Hải

Liễu giải hòa đàm bất vũ trang

           Ngày 2 tháng 7 năm Quý Tỵ - 2013

   Vị nữ dân binh đề chiếu

Táp sảnh anh thư ngũ xích thương

Thự quang sơ chiếu diễn binh trường

Trung Hoa nhi nữ đa kỳ chí

Bất ái hồng trang ái vũ trang.

 

  Độc “ Cảm dịch Nguyễn Du Hán tự thi” cảm tác

      Nguyên tác chữ hán

讀[感譯阮攸漢字詩]感作

胡先生譯阮侯詩

心知昇花甚妙琦

原作保全意肆准

繙文刱造樂言宜

用功句字成佳品

钽割心思得受知

仙景青軒安遂願

如兄做達果然希0

 

Phiên âm

Độc “ Cảm dịch Nguyễn Du Hán tự thi” cảm tác

 

          Hồ tiên sinh dịch Nguyễn Hầu thi

Tâm trí thăng hoa thậm diệu kỳ

Nguyên tác bảo toàn ý tứ chuẩn

Phiên văn sáng tạo nhạc ngôn nghi

Dụng công cú tự thành giai phẩm

Đản cát tâm tư đắc thọ tri

Tiên cảnh Thanh Hiên an toại nguyện

Như huynh tố đạt quả nhiên hy.

 

 

 

            TRỌN ĐỜI ĐẠO THẦY TRÒ

        Kính tặng thầy Nguyễn Xuân Hưng

 

Thầy trò cách biệt sáu mươi năm

Trong sáng đôi đường bởi chữ TÂM

Thầy dặn trò đừng hoang sức quá

Trò vâng lời tạc dạ tình thâm

Thầy cho sách quý và phương thuốc

Trò nhận ân cao luyện đức cần

Chung thuỷ thầy trò trọn đạo nghĩa

Trò lên chín chục thầy hơn trăm!

                                            12/11/2025